- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1961; địa chỉ: 68 đường N, Phường Y1, thành phố T, tỉnh Phú Yên"
- Tòa quyết gì? Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 08/2023/QĐST-DS ngày 14/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng dân sự và các; Nghị quyết số 23/2003/QH11 Về nhà đất do Nhà nước đã quản lý…; Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 21/2024/QĐ-PT | Đà Nẵng, ngày 26 tháng 01 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: ông Phạm Văn Hợp.
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Văn Tào và ông Phạm Tồn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên họp: ông Trần Viết Tuấn - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 08/2023/QĐST-DS ngày 14/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã căn cứ vào các điều 217, 218, 219 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Đòi lại tài sản, quyền sử dụng đất, hủy GCNQSDĐ, hủy công văn của UBND tỉnh Phú Yên” giữa:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1961; địa chỉ: 68 đường N, Phường Y1, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Ủy quyền cho bà Lê Thị Tường V, sinh năm 1980; địa chỉ: Long An; cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Phan Quang H1, Công ty Luật TNHH LDL – Chi nhánh Gia Lai; địa chỉ liên hệ: 24 đường Đ1, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: vợ chồng ông Hồ K (sinh năm 1927, chết năm 2020), bà Đỗ Thị Th (sinh năm 1940, chết năm 2022); địa chỉ: Tổ 5, Khu phố N, Phường Y2, thành phố T, tỉnh Phú Yên; chỗ ở: 18/5 Đường T1, phường Y3, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bị đơn gồm có:
1. Bà Hồ Thị Thanh Th1, sinh năm 1964; địa chỉ: 60 đường N1, Phường Y4, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
2. Ông Hồ Long Q1, sinh năm 1967; địa chỉ: 18/5 Đường T1, Phường Y3, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
3. Ông Hồ Quý A, sinh năm 1969; địa chỉ: Khu phố N2, Phường Y2, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
4. Bà Hồ Kim T2, sinh năm 1971; địa chỉ: 18/5 Đường T1, Phường Y3, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
5. Ông Hồ Công N3, sinh năm 1975; địa chỉ: 20 đường N4, Phường Y2, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên.
2. Ông Nguyễn Thế D, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn Đ2, xã H2, huyện P, tỉnh Phú Yên.
3. Vợ chồng ông Phạm Văn N5, sinh năm 1970, bà Trương Thị M, sinh năm 1969; địa chỉ: 04A đường L, Phường Y5, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
4. Ông Nguyễn Trọng H3, sinh năm 1973; địa chỉ: 179 đường L3, Phường Y6, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Tại đơn kháng cáo ngày 15/8/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Y kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 08/2023/QĐST-DS ngày 14/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
XÉT THẤY:
Thực hiện chính sách quản lý, cải tạo XHCN đối với nhà đất ở các đô thị và các tỉnh phía Nam theo Quyết định số 111/CP ngày 14/4/1977 (Quyết định số 111-CP ngày 14/4/1977 của Hội đồng Chính phủ), UBND tỉnh Phú Yên đã ban hành Quyết định số 3506VP/AI ngày 27/11/1978 V/v trực tiếp quản lý nhà, đất, tài sản vắng chủ tại số nhà 68, 70, 72 Đường N, Phường Y1, thị xã T (nay là thành phố T) của ông Nguyễn Quốc M1. Thực hiện chính sách bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo quy định tại Nghị định số 61-CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ, UBND tỉnh Phú Yên đã ban hành Quyết định số 1984/QĐ-UB ngày 05/10/1998 V/v bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (đợt 10), trong đó bán nhà 68 Đường N cho vợ chồng ông Hồ K, Đỗ Thị Th. Sau khi biết Nhà nước bán hóa giá nhà cho vợ chồng ông K, bà Th, bà Nguyễn Thị Ngọc Y (con của ông M1) đã nhiều lần làm đơn khiếu nại xin lại nhà 68 Đường N. UBND tỉnh Phú Yên đã ban hành Công văn số 223/CV-UB ngày 30/3/1998 trả lời không có cơ sở xem xét đơn khiếu nại của bà Y, sau khi nhận Công văn số 223/CV-UB ngày 30/3/1998, bà Y tiếp tục khiếu nại, UBND tỉnh Phú Yên đã có Quyết định số 824/1999/QĐ-UB ngày 21/4/1999, không chấp nhận toàn bộ khiếu nại của bà Y.
Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2018, bà Nguyễn Thị Ngọc Y yêu cầu:
- Ông Hồ K trả lại nhà 68 Đường N, Phường Y1, thành phố T, tỉnh Phú Yên do Nhà nước bán hóa giá cho ông không đúng đối tượng. Bà Y sẽ trả lại giá trị căn nhà mà ông K đã mua trước đây.
Ngày 02/11/2020, bà Y bổ sung yêu cầu khởi kiện:
- Hủy Công văn số 223/CV-UB ngày 30/3/1998 của UBND tỉnh Phú Yên.
- Hủy Công văn số 3509/STC-GCS
- Hủy Giấy CNQSDĐ và QSHN đã cấp cho vợ chồng ông Hồ K, Đỗ Thị Th.
- Hủy toàn bộ giao dịch mua bán giữa vợ chồng ông Hồ K, Đỗ Thị Th và ông Phạm Văn Nam, bà Trương Thị Mẫn; giữa ông Phạm Văn Nam và ông Nguyễn Trọng Hùng; giữa ông Nguyễn Trọng Hùng và ông Nguyễn Thế Dân.
Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý vụ án dân sự “Đòi lại tài sản, quyền sử dụng đất, hủy GCNQSDĐ, hủy công văn của UBND tỉnh Phú Yên” và tiến hành giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với án lệ số 27/2019AL.
Tuy nhiên đến ngày 14/8/2023, Toà án cấp sơ thẩm ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 08/2023/QĐST-DS với nhận định: Yêu cầu khởi kiện của bà Y về việc đòi lại tài sản là căn nhà số 68 Đường N, Phường Y1, thành phố T, tỉnh Phú Yên đã được giải quyết bằng các Quyết định có hiệu lực của UBND tỉnh Phú Yên. Mặt khác, căn cứ Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội và Chỉ thị số 70/2004/CT-TTg ngày 27/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ, thì bà Y không có quyền khởi kiện đòi lại tài sản nêu trên, từ đó đình chỉ giải quyết vụ án là chưa đúng với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định khác của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền về tố tụng của các đương sự. Do vậy cần huỷ quyết định đình chỉ này và chuyển hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng bà Nguyễn Thị Ngọc Y khởi kiện là kiện vụ án dân sự đòi lại nhà đất đã thực hiện chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991, lẽ ra Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên phải thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục tranh chấp dân sự nhưng lại ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng quy định của pháp luật; vì vậy đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định đình chỉ và giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng phúc thẩm nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc Y không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Căn cứ Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 08/2023/QĐST-DS ngày 14/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Y không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000đ bà Y đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0003610 ngày 10/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Cục THADS tỉnh Phú Yên; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HSVA, P.HCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Phạm Văn Hợp |