vanban.org

Quyết định 21/2022/QĐHG-HNGĐ — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa chị Bùi Thị H và anh Quách Văn C cụ thể:

Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H và anh Quách Văn C thống nhất tự nguyện thỏa thuận và đề nghị ghi nhận vào biên bản nội dung: Cho hai cháu Quách Văn T, sinh ngày 04/4/2010, Quách Văn Đ, sinh ngày 27/4/2015 tài sản là: 01 mảnh đất thổ cư diện tích 200m2, thửa đất số 138, tờ bản đồ số 04, giấy chứng n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Người khởi kiện chị Bùi Thị H - Người bị kiện anh Bùi Văn C"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa chị Bùi Thị H và anh Quách Văn C cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải; Điều 33 Luật Hòa giải; Điều 34 Luật Hòa giải
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THỦY
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2022/QĐHG-HNGĐYên Thủy, ngày 08 tháng 7 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

Thẩm phán ra quyết định: Lê Trung Nghĩa

Căn cứ Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án ngày 22 tháng 6 năm 2022, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc ly hôn, nuôi con chung, giữa:

Người khởi kiện: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1990

Người bị kiện: Anh Bùi Văn C, sinh năm 1981

Cùng địa chỉ: Xóm Khạ, xã Đa Phúc, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án.

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên tham gia hòa giải được thể hiện trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án ngày 22 tháng 6 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa chị Bùi Thị H và anh Quách Văn C cụ thể:

- Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H và anh Quách Văn C thống nhất tự nguyện thỏa thuận và đề nghị ghi nhận vào biên bản nội dung:

Cho hai cháu Quách Văn T, sinh ngày 04/4/2010, Quách Văn Đ, sinh ngày 27/4/2015 tài sản là: 01 mảnh đất thổ cư diện tích 200m2, thửa đất số 138, tờ bản đồ số 04, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số: CH 00042, số phát hành BG 414365, cấp ngày 11/9/2012 mang tên hộ ông Quách Văn C và bà Bùi Thị H. Hiện nay cháu T và cháu Đ còn nhỏ nên chị Bùi Thị H, anh Quách Văn C thỏa thuận giao cho chị Bùi Thị H được toàn quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 138, tờ bản đồ số 04, diện tích 200m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số: CH 00042, số phát hành BG 414365, cấp ngày 11/9/2012 mang tên hộ ông Quách Văn C và bà Bùi Thị H. Chị Bùi Thị H không được đặt cọc, cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng cho người khác. Khi cháu Quách Văn T, Quách Văn Đ đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì chị Bùi Thị H phải có nghĩa vụ thực hiện việc bàn giao khối tài sản nêu trên cho hai cháu Quách Văn T, Quách Văn Đ.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

3. Trường hợp quyết định này vi phạm Điều 33 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được quyết định các bên đương sự, người đại diện hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến quyết định và viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền đề nghị, kiến nghị xem xét lại quyết định này theo quy định tại Điều 36 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Cỡ chữ