vanban.org

Quyết định 21/2022/QĐ-TA — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Kim C tuyên bố bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1943 mất năng lực hành vi dân sự.

2/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lê Kim C thuộc diện người cao tuổi nên miễn nộp tạm ứng lệ phí theo quy định pháp luật. 3/ Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày ra quyết định. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Lê Kim C"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Kim C tuyên bố bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1943 mất năng lực hành vi dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2022/QĐ-TAHoài Nhơn, ngày 15 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên họp: Ông Huỳnh Long Nhiên

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Uyên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên họp:

Ông Nguyễn Hoàng Quang- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 26/2022/TLST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2022 về “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 200/2022/QĐST-DS ngày 21 tháng 7 năm 2022.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lê Kim C, sinh năm 1938

Địa chỉ: Khu phố S, phường H, thị xã H, tỉnh B.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Kim S, sinh năm 1970

Địa chỉ: 299/17/27/, đường B, phường 1, quận T, thành phố H.

- Chị Lê Thị Kim N, sinh năm 1972

Địa chỉ: Khu phố 1, phường B, thị xã H, tỉnh B.

- Chị Lê Thị P, sinh năm 1976

Địa chỉ: Khu phố 6, phường B, thị xã H, tỉnh B.

- Chị Lê Thị H, sinh năm 1977

Địa chỉ: Tổ 08, khu phố 2, phường T, thị xã Đ, tỉnh B.

- Chị Lê Thị Kim H, sinh năm 1980

Địa chỉ: Khu phố 2, phường B, thị xã H, tỉnh B.

- Anh Lê Kim N, sinh năm 1984

Địa chỉ: Khu phố S, phường H, thị xã H, tỉnh B.

(Ông S, chị P, chị H, chị Kim H, anh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp ngày 01 tháng 7 năm 2022, người yêu cầu ông Lê Kim C trình bày:

Vợ ông là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1943, nơi cư trú: Khu phố Song Khánh, phường Hoài Xuân, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông C và bà L có 06 người con chung tên Lê Kim S, Lê Thị Kim N, Lê Thị P, Lê Thị H, Lê Thị Kim H và Lê Kim N. Trước đây bà L có sức khỏe bình thường làm ăn tuy nhiên đến năm 2012, bà có biểu hiện suy giảm trí nhớ, nói năng không kiểm soát, không nhận biết được người thân, đi đứng lung tung, việc ăn uống và vệ sinh cá nhân không tự chủ được phải có sự hỗ trợ của ông C. Nay để thuận lợi trong việc chăm sóc và các thủ tục pháp lý khác liên quan đến bà L, ông C yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố vợ ông bà Nguyễn Thị L là người mất năng lực hành vi dân sự.

Theo bản tự khai ngày 08/7/2022 và ngày 11/7/2022, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Kim S, chị Lê Thị Kim N, chị Lê Thị P, chị Lê Thị H, chị Lê Thị Kim H và anh Lê Kim N trình bày:

Mẹ ông, anh, chị là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1943, nơi cư trú: Khu phố Song Khánh, phường Hoài Xuân, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Trước đây bà L có sức khỏe bình thường làm ăn tuy nhiên đến năm 2012, bà có biểu hiện suy giảm trí nhớ, nói năng không kiểm soát, không nhận biết được người thân, đi đứng lung tung, việc ăn uống và vệ sinh cá nhân không tự chủ được phải có sự hỗ trợ của ông C. Nay để đảm bảo quyền lợi cho bà L và các thủ tục liên quan đến gia đình, ông S, chị N, chị P, chị H, chị Kim H và anh N thống nhất với yêu cầu của ông Lê Kim C yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố bà Nguyễn Thị L là người mất năng lực hành vi dân sự. Ông S, chị N, chị P, chị H, chị Kim H và anh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn có ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật, thụ lý giải quyết theo đúng thẩm quyền, tuân thủ đầy đủ các quy định về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Việc thông báo thụ lý, việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng, triệu tập đầy đủ các đương sự để lấy lời khai. Quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Lê Kim C yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị L mất năng lực hành vi dân sự.

- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lê Kim C là người cao tuổi thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng lệ phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì việc ông Lê Kim C yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1943, nơi cư trú: Khu phố Song Khánh, phường Hoài Xuân, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định mất năng lực hành vi dân sự. Đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

Về tố tụng:

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Kim S, chị Lê Thị Kim N, chị Lê Thị P, chị Lê Thị H, chị Lê Thị Kim H và anh Lê Kim N có yêu cầu Tòa giải quyết việc dân sự vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định.

Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ Kết luận Giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số: 593/KLGĐYC ngày 13/5/2022 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Miền Trung kết luận đối với trường hợp bệnh của bà Nguyễn Thị L:

“a. Về y học: Mất trí trong bệnh Alzheimer, khởi phát muộn (F00.1).

b. Về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự”.

Xét ông Lê Kim C xác định hiện nay bà L bị có biểu hiện suy giảm trí nhớ, nói năng không kiểm soát, không nhận biết được người thân, đi đứng lung tung, nói nhảm, suy giảm trí nhớ, việc ăn uống và vệ sinh cá nhân không tự chủ. Vì vậy căn cứ Điều 22 Bộ luật dân sự, ông C yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị L mất năng lực hành vi dân sự là có cơ sở để chấp nhận.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về quá trình giải quyết việc dân sự và hướng xử lý việc dân sự: Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Kim C là phù hợp nên chấp nhận.

Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Ông Lê Kim C thuộc diện người cao tuổi nên miễn nộp tạm ứng lệ phí theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; các Điều 361, 367; 370; 371; 372; 376; 378 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

1/ Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Kim C tuyên bố bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1943 mất năng lực hành vi dân sự. Thời hạn được tính từ khi Quyết định có hiệu lực pháp luật.

2/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lê Kim C thuộc diện người cao tuổi nên miễn nộp tạm ứng lệ phí theo quy định pháp luật.

3/ Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày ra quyết định. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

Cỡ chữ