vanban.org

Quyết định 21/2021/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số: 57/2021/TLHG - HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Hữu N và chị Trương Thị Thu H thuận tình ly hôn. Về con chung: Hai đương sự thỏa thuận giao con chung tên là Lê Hiền A, sinh ngày 02/7/2014 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh N có nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng) k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Hữu N ly hôn Trương Thị Thu H"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số: 57/2021/TLHG - HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2021/QĐST - HNGĐBố Trạch, ngày 24 tháng 5 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thẩm phán ra quyết định: ông Nguyễn Phú Quảng.

- Người yêu cầu:

+ Anh Lê Hữu N, sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT: thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình.

+ Chị Trương Thị Thu H, sinh năm 1988; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình.

NỘI DUNG:

Theo nội dung biên bản ghi nhận kết quả hòa giải về việc tự nguyện ly hôn và hòa giải thành tại Tòa án ngày 07/5/2021, anh Lê Hữu và chị Trương Thị Thu H thống nhất trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Hữu N và chị Trương Thị Thu H đều khai nhận anh chị kết hôn với nhau vào ngày 14/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 07 năm, tuy nhiên trong thời gian gần 02 năm trở lại đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẩn, không có tiềng nói chung cho dù hai bên gia đình đã khuyên giải nhưng hai người không thể hòa hợp được. Vợ chồng đã sống ly thân nhau hơn một năm nay, nay xét thấy mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, anh chị thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Anh N, chị H đều thống nhất khai nhận vợ chồng có 01 con chung tên là Lê Hiền , sinh ngày 02/7/2014. Anh, chị thỏa thuận giao chị H trực tiếp nuôi con Lê Hiền A và anh N có nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng) kể từ tháng 05/2021 cho đến khi con trưởng thành (ngày chuyển tiền là 10 hàng tháng).

Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở. Khi cần thiết một trong hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng thống nhất tự phân chia, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải tại Tòa án được thẩm tra tại phiên hòa giải; ý kiến của các bên tham gia hòa giải, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nhận định:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 07 tháng 5 năm 2021 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải về việc tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình thụ lý hòa giải số: 57/2021/TLHG - HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2021; các Điều 55, 58 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 9; các Điều 32, 33, 34, 35 và 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 07 tháng 5 năm 2021,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số: 57/2021/TLHG - HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Hữu N và chị Trương Thị Thu H thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Hai đương sự thỏa thuận giao con chung tên là Lê Hiền A, sinh ngày 02/7/2014 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh N có nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng) kể từ tháng 05/2021 cho đến khi con trưởng thành (ngày chuyển tiền là 10 hàng tháng).

Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.

- Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng thống nhất tự phân chia, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về chi phí hòa giải: : anh Lê Hữu N và chị Trương Thị Thu H không phải chịu chi phí hòa giải theo quy định của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. : anh Lê Hữu N và chị Trương Thị Thu H, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ