vanban.org

Quyết định 21/2021/HS-GĐT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 07/05/2021 Hình sự Giám đốc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 12/QĐ-VKSTC-V7 ngày 19/10/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2016/HSST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về phần quyết định: “Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 10 container (được đánh số thứ tự từ 1 đến 10)”; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng để xét xử sơ thẩm lại theo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần A và đồng phạm phạm tội "Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới" - phạm tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ... (điều 154 Bộ…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 12/QĐ-VKSTC-V7 ngày 19/10/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  • Căn cứ chính? Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––
Quyết định số: 21 /2021/HS-GĐT
Ngày 07 tháng 5 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tự Học

Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: Ông Trần Văn Tuân

Ông Nguyễn Văn Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Quỳnh Trang – Thẩm tra viên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Minh - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 07 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

1. Trần A, sinh năm 1983; ĐKNKTT: số 23D Hàm L, phường Hàng B, quận Hoàn K, thành phố Hà Nội; chỗ ở: số 73 Giang Văn M, quận Ba Đ, thành phố Hà Nội; khi phạm tội là Giám đốc Công ty TNHH giao nhận Tân Tiến Việt N; con ông Trần Ngọc Th và bà Trần Thị Thanh H; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 08/10/2015 đến ngày 02/2/2016 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Bạch Cường Kh sinh năm 1985; ĐKNKTT: Số 78 Lê Hồng Ph, phường Hưng B1, thành phố V, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: phòng F9 tòa nhà 96 phường Phương L1, quận Thanh X, thành phố Hà Nội; khi phạm tội là Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty truyền thông Tầm Nhìn M1; con ông Bạch Ngọc L2 và bà Phạm Thị Ng; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 08/10/2015 đến ngày 02/02/2016 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng tháng 11/2014, Trần A là Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Giao nhận Tân Tiến Việt N và Bạch Cường Kh là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần truyền thông Tầm Nhìn M1 đã thực hiện hành vi dùng thủ đoạn gian dối để kê khai làm thủ tục hải quan nhằm xuất khẩu trái phép 98 khối đá hoa (đá cẩm thạch), tổng thể tích là 92,56m3, có tổng khối lượng là 261,98 tấn, trị giá 2.290.764.000 đồng; trong đó có 58 khối đá có thể tích từ 0,5m3 trở lên, tổng thể tích là 78,07m3 với tổng khối lượng là 220,62 tấn trị giá 1.949.536.000 đồng thuộc danh mục hàng hóa Nhà nước quy định không được phép xuất khẩu (đá khối) nhằm mục đích lấy tiền công dịch vụ. Để thực hiện, Trần A thuê Bạch Cường Kh tạo dựng hồ sơ hải quan xuất khẩu; mở tờ khai điện tử khai báo hàng hóa là đá vôi trắng dạng cục, kích cỡ 20-40 cm để xuất khẩu lô hàng này; đồng thời Trần A thuê 10 container rỗng của hãng tàu OOCL (là hãng tàu vận tải biển quốc tế của Hồng Kông, có Văn phòng giao dịch tại số 195 phố Khâm Thiên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội) để đóng hàng; lấy số cont, số chì để kê khai trong bộ hồ sơ hải quan và đặt chỗ tại hãng tàu OOCL. Sau khi được Chi cục Hải quan V làm thủ tục thông quan, Bạch Cường Kh hoàn thành phần việc của mình và chuyển toàn bộ hồ sơ qua dịch vụ để làm thủ tục tại Chi cục Hải quan Cảng I, Hải Phòng đăng ký cảng xuất hàng. Sau khi hoàn tất thủ tục hải quan cho thông quan, số hàng hóa trên được vận chuyển xuống cảng Đình Vũ – thành phố Hải Phòng để chờ bốc xếp lên tàu thì ngày 09/12/2014 bị Cục điều tra chống buôn lậu – Tổng cục Hải quan phối hợp với Chi cục hải quan cửa khẩu Đình Vũ - Cục hải quan thành phố Hải Phòng kiểm tra, phát hiện bắt giữ, thu tang vật.

Theo Kết luận định giá tài sản số 76/KL-HĐĐG ngày 23/9/2015 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng xác định trị giá của lô hàng bị bắt giữ là 2.290.764.000 đồng; trong đó có 58 khối đá có thể tích từ 0,5m3 trở lên (theo Thông tư số 04/2012/TT-XD ngày 20/9/2012 của Bộ Xây dựng quy định đá khối có kích thước từ 0,5m3 trở lên thuộc danh mục khoáng sản không được phép xuất khẩu) với tổng thể tích là 78,07m3, tổng khối lượng là 220,62 tấn có tổng trị giá 1.949.536.000 đồng.

Tại Công văn số 32/BXD-VLXD ngày 14/7/2015 Bộ xây dựng đã trả lời về việc không ban hành văn bản cho phép Công ty Tầm nhìn M1 do Bạch Cường Kh là Chủ tịch Hội đồng quản trị được xuất khẩu đá khối.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2016/HSST ngày 30/9/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng áp dụng khoản 3, khoản 4 Điều 154; điểm b, p khoản 1 Điều 46 (áp dụng thêm khoản 2 Điều 46 đối với Trần A); Điều 20; Điều 53; Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần A 03 năm tù, Bạch Cường Kh 03 năm tù đều về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”. Phạt tiền mỗi bị cáo 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 10 container (được đánh số thứ tự từ 1 – 10) gồm 98 khối đá (thể hiện chi tiết tại Biên bản mở niêm phong và giao nhận vật chứng vụ án ngày 17/8/2016 tại Cảng PTSC Đình Vũ, thành phố Hải Phòng).

Sau khi xét xử sơ thẩm, vào các ngày 30/9/2016 và 10/10/2016, bị cáo Trần A và Bạch Cường Kh có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 441/2017/HSPT ngày 29/6/2017, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần A, chấp nhận kháng cáo của Bạch Cường Kh, xử phạt: Trần A 03 năm tù; Bạch Cường Kh 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, đều về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 12/QĐ-VKSTC-V7 ngày 19/10/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2016/HSST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, sửa phần quyết định xử lý vật chứng của Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên đối với việc tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 10 container được thu giữ trong vụ án theo hướng tuyên trả lại cho Hãng tàu OOCL theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về việc xử lý vật chứng của vụ án:

Để thực hiện hành vi “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” đối với đá khối thuộc danh mục hàng hóa Nhà nước quy định không được phép xuất khẩu, Trần A và Bạch Cường Kh đã thuê 10 container rỗng thuộc sở hữu của hãng tàu OOCL (là Hãng tàu vận tải biển quốc tế của Hồng Kông, có Văn phòng giao dịch tại số 195 phố Khâm Thiên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội) để đóng hàng.

Khi vụ án bị phát hiện, Cục điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải Quan ban hành Quyết định số 02/QĐ-ĐTCBL ngày 20/5/2015 về việc thu giữ hàng hóa, đồ vật liên quan đến vụ án hình sự gồm 98 khối đá tổng thể tích 92,56m3 tổng khối lượng 261,98 tấn được đóng trong 10 container (gồm các container đánh số OOLU1354074, OOLU3651512, OOLU2961703, OOLU1731584, OOLU3779592, OOLU3670955, OOLU2838535, OOLU0249500, OOLU0202333, OOLU1011809).

Tại Bản kết luận điều tra vụ án số 04/KLDDT-C44-P4 ngày 14/01/2016 và Bản kết luận điều tra vụ án bổ sung số 38/KLĐT-C44-P4 ngày 13/5/2016 của Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an; Cáo trạng số 25/VKSTC-V3 ngày 21/6/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Quyết định số 12/QĐ-VKSTC-V3 ngày 25/7/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc chuyển vật chứng trong vụ án đến Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng đều thể hiện vật chứng của vụ án là 98 khối đá bị thu giữ, không đề cập trong đó có 10 container.

Căn cứ bản tự khai và các lời khai của Trần A thể hiện vào ngày 25/11/2014, Trần A đã thuê container rỗng của hãng tàu OOCL và đặt chỗ tại hãng tàu này (BL3688, 3673, 3683). Sau khi xét xử phúc thẩm, Chi nhánh Công ty TNHH OOCL tại Hải Phòng có Đơn khiếu nại đồng thời cung cấp các tài liệu, chứng cứ như Lệnh cấp Container (BL 3817); Biên bản làm việc ngày 06/9/2017 giữa Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và Hãng tàu OOCL tại Hải Phòng (BL 3818) thể hiện: Hãng tàu OOCL đã ký hợp đồng cho Công ty TNHH Giao nhận Tân Tiến Việt N do Trần A làm Giám đốc thuê container rỗng, lấy số container, số chì để Bạch Cường Kh kê khai trong bộ hồ sơ Hải quan. Mặt khác, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện về phía Hãng tàu biết được việc các bị cáo thuê vỏ container của Hãng tàu là để thực hiện hành vi phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.

Như vậy, có căn cứ để xác định 10 vỏ container thuộc sở hữu của Hãng tàu OOCL, không thuộc sở hữu của Trần A hay Công ty TNHH Giao nhận Tân Tiến Việt N. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không xác định Hãng tàu OOCL là bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và không đưa Hãng tàu OOCL vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Hãng tàu OOCL. Tại phần quyết định, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 10 vỏ container nêu trên là không đúng quy định tại Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 382; khoản 3 Điều 388; Điều 391 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

1. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 12/QĐ-VKSTC-V7 ngày 19/10/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

2. Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2016/HSST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về phần quyết định: “Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 10 container (được đánh số thứ tự từ 1 đến 10)”; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng để xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ