vanban.org

Quyết định 21/2019/DS-ST — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chị Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho chị Phan Thị V số tiền đã vay là 20.

Các đương sự TAND tỉnh Quảng Nam Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Phan Thị V - Nguyễn Thị M"
  • Tòa quyết gì? Chị Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho chị Phan Thị V số tiền đã vay là 20.
  • Căn cứ chính? Điều 419 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY XUYÊN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2019/QĐST-DS.Duy Xuyên, ngày 12 tháng 4 năm 2019.

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH NGOÀI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị M Phượng.

Thư ký phiên họp: Ông Trần Ngọc Luông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam mở phiên họp xét công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thụ lý số: 29/2019/TLST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định mở phiên họp số: 43/2019/QĐST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2019.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Phan Thị V, sinh năm 1989; Trú tại: Thôn Ph 1, xã D, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn M, xã D, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ngày 30/12/2017 âm lịch, chị Nguyễn Thị M có vay của chị Phan Thị V số tiền 20.000.000 đồng. Lãi suất hai bên thỏa thuận là 500.000 đồng/1 tháng. Thời gian vay là 1 năm. Đến nay đã quá thời hạn nói trên nhưng chị M vẫ chưa trả được cho chị V tiền gốc cũng như tiền lãi. Chị V đã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị M phải trả lại số tiền đã vay và tiền lãi của 13 tháng với mức lãi suất là 1,5%/1 tháng (300.000 đồng/1 tháng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết số nợ trên. Tại biên bản hòa giải thành ngày 20/3/2019, Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án đã công nhận kết quả hòa giải thành của các đương sự về việc chị M đồng ý trả cho chị V số tiền còn nợ là 23.900.000 đồng, gồm 20.000.000 đồng tiền gốc và 3.900.000 đồng tiền lãi theo yêu cầu của chị V. Ngày 20/3/2019, chị Phan Thị V có đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành của Trung tâm hòa giải, đối thoại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên nhận định:

Chị Nguyễn Thị M thừa nhận có vay của chị V số tiền 20.000.000 đồng vào ngày 30/12/2017 âm lịch. Lãi suất các bên thỏa thuận là 500.000 đồng 1 tháng (2.5%/1 tháng). Trong văn bản trả lời ý kiến tại Trung tâm hòa giải ngày 20/3/2019, chị M có trình bày đã trả cho chị V số tiền 6.000.000 đồng tuy nhiên tại phiên họp hôm nay, chị M khai số tiền 6.000.000 đồng là chị trả cho khoản vay trước, không liên quan đến khoản vay này. Tại Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án, chị V yêu cầu chị M phải trả số tiền nợ gốc là 23.900.000 đồng, gồm 20.000.000 đồng tiền gốc và 3.900.000 đồng tiền lãi (13 tháng x 300.000đ/1 tháng), đồng thời phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20/3/2019 cho đến khi trả xong số tiền trên với mức lãi suất thỏa thuận là 1%/1 tháng. Chị M đồng ý với yêu cầu trên.

Xét sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Căn cứ khoản 5 Điều 419 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thụ lý số: 35/2019/DS-ST ngày 20 tháng 03 năm 2019, cụ thể như sau:

Chị Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho chị Phan Thị V số tiền đã vay là 20.000.000 đồng và số tiền nợ lãi tính của 13 tháng là 3.900.000 đồng, tổng cộng là 23.900.000 đồng (hai mươi ba triệu chín trăm nghìn đồng). Kể từ ngày 20/3/2019 cho đến khi thi hành xong, chị Nguyễn Thị M còn phải tiếp tục chịu tiền lãi trên số nợ gốc con phải trả theo mức lãi suất đã thỏa thuận giữa các bên là 1%/1 tháng.

Điều 2. Lệ phí việc dân sự chị Phan Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí việc dân sự đã nộp là theo biên lai thu số 7652 ngày 20 tháng 3 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên. Chị V đã nộp đủ lệ phí.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Điều 4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ