- Tranh chấp gì? án hành chính — ""Khiếu nại Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch huyện và Chủ tịch tỉnh""
- Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số số 52/2018/TLST- HC ngày 02 tháng 8 năm 2018 về việc “Khiếu kiện Quyết định giải quyết đơn khiếu nại số 38/QĐ-UBND-ĐT ngày 11-3-2014 của Chủ tịch UBND huyện Đ và Quyết định về việc giải quyết đơn số 2424/QĐ-UBND ngày 10-11-2014 của C…
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 21/2018/QĐST-HC | Lâm Đồng ngày 24 tháng 9 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 52/2018/TLST- HC ngày 02-8-2019 về việc “Khiếu kiện Quyết định giải quyết đơn khiếu nại số 38/QĐ-UBND-ĐT ngày 11-3-2014 của Chủ tịch UBND huyện Đ và Quyết định về việc giải quyết đơn số 2424/QĐ-UBND ngày 10-11-2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng”.
Xét thấy: Căn cứ Quyết định số 2245/QĐ-UBND ngày 30-8-2002 của UBND tỉnh Lâm Đồng về thu hồi đất thực hiện dự án thủy điện Đại Ninh và đã thu hồi của hộ ông Phạm Hồng K diện tích 18.453m2 thuộc các thửa đất 1,2,4,5 và 7 tờ bản đồ số 32, xã N, huyện Đ. Tại Quyết Định số 1814/QĐ-UB ngày 10-7-2003 của UBND tỉnh Lâm Đồng về phê duyệt chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng công trình thủy điện Đại Ninh thì hộ ông Phạm Hồng K bị thu hồi và được bồi thường, hỗ trợ diện tích 18.453m2 diện tích đất trồng cà phê. Ông Phạm Hồng K đã nhận tái định canh diện tích 7.187m2, phần còn lại 11.266m2 thì ông vẫn chưa được bố trí tái định canh. Đối với phần diện tích 11.266m2 chưa được bố trí tái định canh nêu trên gia đình ông vẫn tiếp tục canh tác cây cà phê, sử dụng từ khi bị thu hồi đến nay.
Do đó, ông Phạm Hồng K đã có đơn khiếu nại gửi đến UBND huyện Đ và UBND tỉnh Lâm Đồng đề nghị được bồi thường, hỗ trợ bằng tiền theo giá thị trường tại thời điểm hiện tại hoặc trả lại đất cũ đối với diện tích 11.266m2 đã bị thu hồi nhưng chưa được bố trí tái định canh. Tại Quyết định giải quyết đơn khiếu nại số 38/QĐ-UBND-ĐT ngày 11-3-2014 của Chủ tịch UBND huyện Đ “không chấp nhận nội dung đơn khiếu nại” và Quyết định về việc giải quyết đơn số 2424/QĐ-UBND ngày 10-11-2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng giải quyết đơn khiếu nại của ông Phạm Hồng K giữ nguyên quyết định 38/QĐ-UBND-ĐT ngày 11-3-2014 của Chủ tịch UBND huyện Đ.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ. Tại các biên bản lấy lời khai ngày 21 tháng 8 năm 2018 (Bút lục 43), ông Phạm Hồng K khẳng định đã được cán bộ cơ quan nhà nước đến tận nhà tống đạt trực tiếp bản chính các quyết định số 38/QĐ-UBND-ĐT ngày 11 tháng 3 năm 2014 Chủ tịch UBND huyện Đ và Quyết định về việc giải quyết đơn lần hai số 2424/QĐ-UBND ngày 10-11-2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng. Sau khi nhận được hai quyết định nêu trên thì ông Phạm Hồng K tiếp tục gửi đơn khiếu nại đến thanh tra Chính phủ và sau đó nhận được văn bản số 2069/HD-TDTW ngày 05-6-2015 hướng dẫn ông khởi kiện đến Tòa án. Từ đó, có thể xác định thời điểm ông Phạm Hồng K nhận và biết được hai quyết định số 38/QĐ-UBND-ĐT và 2424/QĐ-UBND nêu trên chậm nhất là tháng 6-2015. Đến ngày 15-6-2018 (ngày nộp đơn khởi kiện đầu tiên) mới khởi kiện là thuộc trường hợp “thời hiệu khởi kiện đã hết”; và không thuộc trường hợp “vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác” theo quy định tại khoản 4 điều 116 của luật tố tụng hành chính. Do vậy, căn cứ điểm g, khoản 1, Điều 143 của Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là phù hợp.
Về tạm ứng án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại cho người khởi kiện số tiền nộp tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số số 52/2018/TLST- HC ngày 02 tháng 8 năm 2018 về việc “Khiếu kiện Quyết định giải quyết đơn khiếu nại số 38/QĐ-UBND-ĐT ngày 11-3-2014 của Chủ tịch UBND huyện Đ và Quyết định về việc giải quyết đơn số 2424/QĐ-UBND ngày 10-11-2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng”; giữa:
- Người khởi kiện: ông Phạm Hồng K – sinh năm 1951 Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Người bị kiện:
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng Địa chỉ: 04 Trần Hưng Đạo, phường 3, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn V, chức vụ Chủ tịch;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Y; chức vụ Phó Chủ tịch (văn bản ủy quyền ngày 5045/UBND-TD ngày 10-8-2018).
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ Địa chỉ: thị trấn L, Đức Trọng, Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Văn P, chức vụ Chủ tịch;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Thanh T, chức vụ Phó Chủ tịch (văn bản ủy quyền số 10/GUQ-UBND ngày 06-8-2018);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phan Anh T; chức vụ Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi Trường huyện Đ, (đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự số 51/NBVQLIHP ngày 28-8-2018).
2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Hoàn trả lại cho người khởi kiện ông Phạm Hồng K số tiền 300.000đ nộp tạm ứng án phí, theo biên lai thu số AA/2016/0010119 ngày 02-8-2018 của Cục THADS tỉnh Lâm Đồng.
3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc kể từ ngày Quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
| Nơi nhận: - Tòa án cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Lâm Đồng - Phòng KTNV&THA (1); - Cục THADS tỉnh (1); - Các đương sự (để thi hành); - Lưu hồ sơ; Án văn. | THẨM PHÁN (đã ký) Trịnh Văn Hùng |