vanban.org

Quyết định 205/2023/QĐ-PT

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 26/06/2023 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 02/2023/QĐST-HC, ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

Ông Trần Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số: 0000310 ngày 21/3/2023, của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Người khởi kiện: ông Trần Ngọc D, sinh năm 1956; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 02/2023/QĐST-HC, ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 243 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 205/2023/QĐ-PTĐà Nẵng, ngày 26 tháng 6 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO

ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp:

Ông Trương Công Thi

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Việt Cường

Ông Nguyễn Cường

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Quách Hòa Bình, Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 02/2023/QĐST-HC ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 116; điểm g khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa:

- Người khởi kiện: ông Trần Ngọc D, sinh năm 1956; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: ông Phan Minh B - Luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T; Địa chỉ: G T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Địa chỉ: C P, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Hồ Đ - Phó Chủ tịch.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Hồ Thị M; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Ông Đỗ D1 (đã chết) và bà Dương Thị Á; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đỗ Dương :

1. Anh Đỗ Trọng Q, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

2. Chị Đỗ Thị Cẩm T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

3. Chị Đỗ Thị Cẩm A, sinh năm 1990; Địa chỉ: D H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

4. Anh Đỗ Trọng H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

5. Chị Đỗ Thị Cẩm N, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Tại Đơn kháng cáo đề ngày 13/3/2023, ông Trần Ngọc D cho rằng: Việc khởi kiện vụ án hành chính của ông D vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 02/2023/QĐST-HC ngày 01 tháng 3 năm 2023 là không đúng pháp luật, do vậy, ông yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xem xét lại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nêu trên theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của ông Trần Ngọc D, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 02/2023/QĐST-HC, ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

XÉT THẤY:

. Ông Đỗ D1 và bà Dương Thị Á được UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) ngày 24/02/2016, tại thửa đất số 66, tờ bản đồ số 43, diện tích 2.065,4m2, tại Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Theo Đơn khởi kiện đề ngày 19/8/2020 của ông Trần Ngọc D thể hiện ông D biết được việc UBND huyện P cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng ông Đỗ D1 và bà Dương Thị Á trước ngày 21/9/2017, nhưng đến ngày 21/9/2018 ông D không thực hiện quyền khởi kiện đối với Quyết định hành chính là GCNQSDĐ nói trên, ngày 21/9/2017 ông D có làm Đơn kiến nghị và được UBND huyện P trả lời tại Công văn số 84/UBND-TTr ngày 24/01/2019, nhưng sau khi nhận được Công văn, ông D cũng không khiếu nại hoặc khởi kiện đối với Công văn số 84/UBND-TTr nêu trên, đến ngày 15/5/2019 ông D khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế hủy GCNQSDĐ cấp cho vợ chồng ông Đỗ D1 và bà Dương Thị Á, sau khi thụ lý, đến ngày 23/5/2020, ông D đã tự nguyện rút lại toàn bộ đơn khởi kiện, theo Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, đến ngày 19/8/2020 ông nộp lại đơn khởi kiện vụ án hành chính, còn theo ông D ngày 04/6/2019 ông có nộp đơn khởi kiện cho Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế nhưng không được xem xét.

Theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính quy định về thời hiệu khởi kiện như sau:

“1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

2. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:

a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính…

3. Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:

a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai”.

Với quá trình khởi kiện nêu trên, theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính như đã viện dẫn nói trên, xét thấy, việc khiếu nại của ông D không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật khiếu nại, việc khởi kiện GCNQSDĐ của ông Trần Ngọc D đã hết thời hiệu khởi kiện, mặt khác, tại các Đơn khởi kiện ngày 19/8/2020; ngày 04/6/2019 (bút lục số 01, 192) ông D chỉ yêu cầu hủy đối với GCNQSDĐ cấp cho vợ chồng ông Đỗ D1 và bà Dương Thị Á, do vậy, thời hiệu khởi kiện đối với quyết định hành chính (GCNQSDĐ) đã hết, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 02/2023/QĐST-HC ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế là có căn cứ và đúng pháp luật.

Trường hợp, ông Trần Ngọc D khởi kiện đòi tài sản (quyền sử dụng đất) theo thủ tục tố tụng dân sự thì có thể yêu cầu Tòa án xem xét lại quyết định cá biệt theo quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do đó, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Trần Ngọc D, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 02/2023/QĐST-HC, ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

. Về án phí: Căn cứ Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo không được chấp nhận nên người khởi kiện ông Trần Ngọc D phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ điểm a khoản 5, Điều 243 Luật tố tụng hành chính;

QUYẾT ĐỊNH

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 02/2023/QĐST-HC, ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

2. Ông Trần Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số: 0000310 ngày 21/3/2023, của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ