vanban.org

Quyết định 205/2021/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/12/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị P.

Tuyên bố ông Phạm N là người mất năng lực hành vi dân sự. Bà Nguyễn Thị P là người giám hộ đương nhiên của ông Phạm N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố một người mất năng lực hành vi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị P.
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 205/2021/QĐDS-STTân Bình, ngày 02 tháng 12 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi”

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Phước Lý

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Đài Trang– Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Út Hậu– Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 175/2021/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2021 về yêu cầu „„Tuyên bố một người là mất năng lực hành vi dân sự ‟‟ theo Quyết định mở phiên họp số 09/2021/QĐ-MPH ngày 19 tháng 11 năm 2021.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1970; địa chỉ: Đường L, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Chị Phạm Thị Tường V, sinh năm 1994; địa chỉ: Đường L, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

2.2. Anh Phạm Văn K, sinh năm 1995; địa chỉ: Đường L, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

2.3. Anh Phạm Văn S, sinh năm 2005; địa chỉ: Đường L, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị P, mẹ ruột của anh S, là người giám hộ đương nhiên của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Phạm N và bà Nguyễn Thị P kết hôn năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 19/7/2021, ông N bị tai biến nhồi máu não, không thể tự chăm sóc bản thân, không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; do đó bà P yêu cầu Tòa án tuyên bố ông N là người mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết yêu cầu:

Xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 25/10/2021 của bà Nguyễn Thị P về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, người bị yêu cầu ông Phạm N có nơi cư trú tại quận Tân Bình, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 27; điểm a Khoản 2 Điều 35; điểm a Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết yêu cầu của bà P thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết:

Khoản 1 Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về quyền yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi:

“1. Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự”.

Căn cứ Bản sao Trích lục kết hôn số 244/TLKH-BS ngày 11/10/2021 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, đủ cơ sở xác định bà Nguyễn Thị P và ông Phạm N là vợ chồng hợp pháp. Do đó, bà P có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông N mất năng lực hành vi dân sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên họp, người yêu cầu do bà Nguyễn Thị P trình bày: Ngày 19/7/2021, ông N bị tai biến nên không thể tự chăm sóc bản thân, không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; do đó bà P đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông N mất năng lực hành vi dân sự và chỉ định bà P là người giám hộ theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Chị Phạm Thị Tường V và anh Phạm Văn K có bản tự khai và đơn xin vắng mặt đề ngày 10/11/2021 trình bày: Các anh chị là con của ông Phạm N và bà Nguyễn Thị P. Ngày 19/7/2021, ông N bị tai biến nhồi máu não, không thể tự chăm sóc bản thân, không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; nên thống nhất với yêu cầu của bà P đề nghị Tòa án tuyên bố ông N là người mất năng lực hành vi dân sự và chỉ đinh bà P là người giám hộ của ông Nghĩa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Về tố tụng, trong quá trình thụ lý, giải quyết việc dân sự thì Thẩm phán, các đương sự đều đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông bà Nguyễn Thị Phượng.

Về nội dung:

Ông Phạm N bị tai biến nhồi máu não không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình từ tháng 7 năm 2021 nên bà Nguyễn Thị P yêu cầu Tòa án tuyên bố ông N là người mất năng lực hành vi dân sự và chỉ định bà P là người giám hộ của ông Nghĩa.

Xét yêu cầu của bà P, về tuyên bố ông Phạm N là người mất năng lực hành vi dân sự, nhận thấy: Sau khi thụ lý đơn yêu cầu, ngày 10/11/2021 Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 19/2021/QĐ-TCGĐ về trưng cầu giám định năng lực hành vi dân sự đối với ông Phạm N. Tại Kết luận Giám định pháp y tâm thần số 1081/KLGĐ ngày 12/11/2021 của Trung tâm Pháp y Tâm thần Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

“1.1. Về y học: Đương sự sa sút tâm thần trong bệnh mạch máu não (F01-ICD10).

1.2. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người bị mất năng lực hành vi:

„„1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”

Từ căn cứ trên và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tòa án nhân dân quận Tân Bình chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị P tuyên bố ông Phạm N là người mất năng lực hành vi dân sự.

Về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự, tại Điều 53 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:

1. Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ;”

Như nhận định tại Mục [2], bà Nguyễn Thị P và ông Phạm N là vợ chồng hợp pháp. Ông N là người mất năng lực hành vi dân sự nên bà P là người giám hộ đương nhiên của ông Nghĩa.

Về lệ phí: Người yêu cầu bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 27; điểm a Khoản 2 Điều 35; điểm a Khoản 2 Điều 39; Điều 371; Điều 372; Điều 376; Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các điều 22, 53, 57, 58, 59, 60, 61, 62 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị P.

2. Tuyên bố ông Phạm N là người mất năng lực hành vi dân sự.

3. Bà Nguyễn Thị P là người giám hộ đương nhiên của ông Phạm N.

4. Bà Nguyễn Thị P có quyền, nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.

5. Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm nộp án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0030472 ngày 04/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình. Bà P đã nộp đủ.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị P được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự, bao gồm chị Phạm Thị Tường V và anh Phạm Văn K thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

7. Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ