- Tranh chấp gì? "Bà Nguyễn Thị Ấu kiện Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh"
- Tòa quyết gì? 1/Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị A; giữ nguyên quyết
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng Hành chính; Điều 143 Luật tố tụng Hành chính; Điều 144 Luật tố tụng Hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 204/2021/QĐ-PT | Tp.Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 04 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp:
ông Phan Thanh Tùng
Các Thẩm phán:
ông Trần Văn Mười
bà Nguyễn Thị Thụy Vũ
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên họp: ông Nguyễn Tấn Thông, Kiểm sát viên.
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 1155/2020/QĐ-ST ngày
06/08/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ Điều 116; Điều 143; Điều 144 và Điều 145 của Luật tố tụng Hành chính năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa các đương sự:
1/Người khởi kiện:
Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1945;
Địa chỉ: 67/9 ấp Dân Thắng 1, xã Tân TN, huyện HM, Thành phố Hồ Chí
Minh.
2/Người bị kiện:
Ủy ban nhân dân huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ: 1 Lý Nam Đế, thị trấn HM, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1/Bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1956;
3.2/Ông Phan Văn N, sinh năm 1950;
Cùng địa chỉ: 78/9Đ ấp Dân Thắng 1, xã Tân TN, huyện HM, Thành phố
Hồ Chí Minh.
3.3/Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973;
3.4/Bà Lê Thị Thu Th, sinh năm 1976;
Cùng địa chỉ: 246 Trường Chinh, phường Tân HT, Quận 12, Thành phố Hồ
Chí Minh.
3.5/Ông Võ Văn R, sinh năm 1962;
Địa chỉ: 781/14A ấp Dân Thắng 1, xã Tân TN, huyện HM, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Lý do đình chỉ mà Tòa án cấp sơ thẩm nêu ra như sau:
-Bà Nguyễn Thị A khởi kiện khi thời hiệu khởi kiện đã hết.
Tại đơn kháng cáo ghi ngày 31/08/2020, người khởi kiện là bà Nguyễn Thị
A yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết như sau:
-Hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 1155/2020/QĐ-ST ngày
06/08/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết vụ án.
Tại phiên họp phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị A, giữ nguyên quyết định sơ thẩm.
XÉT THẤY:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 28/04/2018, người khởi kiện là bà Nguyễn
Thị A yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 861857 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 00118) ngày 19/03/2013 do Ủy ban nhân dân huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Thu Th; đơn khởi kiện của đương sự đã được Tòa án thụ lý theo luật định.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà Nguyễn Thị
A và người đại diện của đương sự (là bà Phạm Vọng Tiêu Giao, theo văn bản ủy quyền ghi ngày 16/06/2020) thừa nhận rằng bà Nguyễn Thị A đã biết được sự việc Ủy ban nhân dân huyện HM cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Thu Th từ năm 2013, nhưng vào lúc đó, bà Nguyễn Thị A không khởi kiện vụ án hành chính (biên bản ngày 09/07/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bút lục 167).
Điều 116 của Luật tố tụng Hành chính năm 2015 quy định về thời hiệu
khởi kiện vụ án Hành chính như sau:
“1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được
quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
2. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:
a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính,
hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;”.
Chiếu theo điều luật viện dẫn nói trên, tính từ khi bà Nguyễn Thị A biết
được sự việc Ủy ban nhân dân huyện HM cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Thu Th (năm 2013), đến ngày 28/04/2018 (thời điểm bà Nguyễn Thị A nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Thu Th), thì đã quá thời hạn 01 năm.
Như vậy, việc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án hành chính do hết thời hiệu khởi kiện, chiếu theo Điểm g Khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng Hành chính năm 2015, là có căn cứ pháp luật.
Bà Nguyễn Thị A kháng cáo quyết định đình chỉ nhưng không có tình tiết,
chứng cứ gì mới; Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của đương sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 243 của Luật tố tụng Hành chính năm 2015;
1/Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị A; giữ nguyên quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 1155/2020/QĐ-ST ngày 06/08/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2/Về án phí phúc thẩm: bà Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 đồng nhưng
được trừ vào số tiền đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2019/0092676 ngày 28/09/2020 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; bà Nguyễn Thị A đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
3/Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại TP.HCM; - TAND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phan Thanh Tùng |