vanban.org

Quyết định 203/2021/QĐ-PT

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 20/05/2021 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị A. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 13/2020/QĐST-HC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh H .

Về án phí: Bà Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính phúc thẩm, được trừ đi số tiền tạm ứng 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2018/0005711 ngày 12/01/2018 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh H. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "nguyễn văn A kiện UBND"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị A. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 13/2020/QĐST-HC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh H .
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 203/2021/QĐ-PTHà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Vân Hương ;

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Anh Dũng;

Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Huy Hoàng, Kiểm sát viên.

NỘI DUNG:

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 13/2020/QĐST-HC ngày 31 tháng 12 năm 2020, Tòa án nhân dân tỉnh H đã căn cứ Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại, giữa:

Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh H.

Người bị kiện: Chủ tịch UBND huyện Z, tỉnh H; địa chỉ: Trụ sở UBND huyện Z tại thị trấn K, huyện Z, tỉnh H.

Tại đơn kháng cáo ngày 11 tháng 01 năm 2021, đơn trình bày ngày 16 tháng 3 năm 2021, người khởi kiện là bà Nguyễn Thị A cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời hiệu khởi kiện đã hết là không đúng và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 13/2020/QĐST-HC nêu trên của Tòa án nhân dân tỉnh H. Lý do kháng cáo: Sau khi nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại số 3841/QĐ-UBND ngày 25/10/2012 của Chủ tịch UBND huyện Z Về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị A, bà đã liên tục khiếu nại Quyết định nêu trên bằng cách gửi đơn hoặc trực tiếp đến các cơ quan từ địa phương đến trung ương, nhưng không được giải quyết khiếu nại. Do vậy, ngày 31 tháng 7 năm 2020, bà có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh H yêu cầu hủy Quyết định số 3841/QĐ-UBND nêu trên, là còn thời hiệu.

XÉT THẤY:

Bà Nguyễn Thị A đã nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại số 3841/QĐ-UBND ngày 25/10/2012 của Chủ tịch UBND huyện Z, năm 2013 đã có đơn khiếu nại đến UBND tỉnh H. Bà Chấu xác nhận đến năm 2019 do không nhận được văn bản trả lời khiếu nại nên bà mới khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh H yêu cầu hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 3841/QĐ-UBND nêu trên.

Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính “3. Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:…b) 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại”; quy định tại Điều 37 Luật khiếu nại “ Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý”.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định thời hiệu khởi kiện đã hết và đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính, là có cơ sở.

Căn cứ vào Điều 243 Luật tố tụng hành chính, khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị A. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 13/2020/QĐST-HC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh H .

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính phúc thẩm, được trừ đi số tiền tạm ứng 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2018/0005711 ngày 12/01/2018 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh H.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ