vanban.org

Quyết định 202/2025/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Nguyễn Đức A. Tuyên bố bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1971. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Lỗ Giao, xã Thư Lâm, TP. Hà Nội đã chết ngày 02/01/2012. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "lạc- đãng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7- HÀ NỘI
---------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 202/2025/QĐST-VDSHà Nội, ngày 05 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết)

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- HÀ NỘI

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Lâm Bình.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đăng Hùng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Hứa Hải Linh– Kiểm sát viên.

Ngày 05/9/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 124/2025/TLST-VDS ngày 23/4/2025 về việc: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2025/QĐST-VDS ngày 27/8/2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Đức A, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Thôn X, xã Y, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

* Những vấn đề cụ thể người yêu cầu việc dân sự yêu cầu Toà án giải quyết bao gồm: Tuyên bố bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1971. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn X, xã Y, TP. Hà Nội đã chết.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời khai tại Tòa án, người yêu cầu ông Nguyễn Đức A trình bày như sau:

Về quan hệ: Bố ông là cụ Nguyễn Đức Phong, chết năm 2007; Mẹ ông là cụ Trần Thị Sơ, chết năm 2022. Bố mẹ ông sinh được 05 người con, ông là con thứ ba còn bà Nguyễn Thị B là con thứ hai của hai cụ.

Từ khi được sinh ra, bà B chung sống cùng gia đình ông, đến khi trưởng thành lấy chồng là ông Hoàng Xuân Sơn và sinh sống tại thôn Lỗ Giao, xã Thư Lâm, Thành phố Hà Nội, có 01 con chung là anh Hoàng Xuân Dũng. Tuy nhiên, năm 1993, bà B và ông Sơn đã ly hôn.

Ngay sau khi ly hôn, bà B đột nhiên bỏ nhà đi mà không có lý do. Ông và gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi, liên A với người quen, họ hàng của gia đình để hỏi thăm tin tức của bà nhưng không ai có thông tin và liên A gì. Đến năm 2006, bà B có về nhà một lần, ở được vài ngày rồi lại tiếp tục bỏ đi luôn. Từ đó cho đến nay đã gần 20 năm liên tục, ông và gia đình không biết bà B hiện nay đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết.

Nay, ông đề nghị Toà án tuyên bố bà Nguyễn Thị B đã chết, mục đích để gia đình ông giải quyết vấn đề dân sự, đất đai có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà B.

Về quan hệ tài sản liên quan đến bà B: Ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên họp:

- Ông Nguyễn Đức A vắng mặt nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt và xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Hà Nội tham gia phiên họp phát biểu quan điểm về thẩm quyền giải quyết vụ việc của Tòa án nhân dân khu vực 7- Hà Nội là đúng thẩm quyền; Thẩm phán, Thư ký tuân theo đúng quy định tố tụng dân sự, không có vi phạm. Sau khi đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị B đã chết của ông Nguyễn Đức A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 7- Hà Nội nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ việc: Người yêu cầu là ông Nguyễn Đức A yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết, đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Khoản 4 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự. Người bị yêu cầu là bà Nguyễn Thị B có nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: thôn Lỗ Giao, xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội (Nay là thôn Lỗ Giao, xã Thư Lâm, Thành phố Hà Nội). Do đó, thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc về Tòa án nhân dân khu vực 7- Hà Nội (Trước đây là Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, TP. Hà Nội) theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 35; Điểm b Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ: Ông Nguyễn Đức A có bố là cụ Nguyễn Đức Phong, chết năm 2007; Mẹ là cụ Trần Thị Sơ, chết năm 2022. Bố mẹ ông sinh được 05 người con, ông là con thứ ba còn bà Nguyễn Thị B là con thứ hai của hai cụ.

Bà Nguyễn Thị B có chồng là ông Hoàng Xuân Sơn nhưng đã ly hôn năm 1993 và có 01 con chung là anh Hoàng Xuân Dũng.

[3] Xét yêu cầu của ông Nguyễn Đức A:

Tại Đơn xin xác nhận có xác nhận của chính quyền địa phương ngày 18/4/2025 và trình bày của gia đình bà B thể hiện: Bà Nguyễn Thị B là công dân của thôn Lỗ Giao, xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội (Nay là thôn Lỗ Giao, xã Thư Lâm, Thành phố Hà Nội). Từ khi được sinh ra, bà B chung sống cùng bố mẹ, đến khi trưởng thành lấy chồng là ông Hoàng Xuân Sơn và sinh sống tại thôn Lỗ Giao, xã Thư Lâm, Thành phố Hà Nội, có 01 con chung là anh Hoàng Xuân Dũng. Tuy nhiên, năm 1993, bà B và ông Sơn đã ly hôn.

Ngay sau khi ly hôn, bà B đột nhiên bỏ nhà đi mà không có lý do. Gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi, liên A với người quen, họ hàng của gia đình để hỏi thăm tin tức của bà nhưng không ai có thông tin và liên A gì. Đến năm 2006, bà B có về nhà một lần, ở được vài ngày rồi lại tiếp tục bỏ đi. Từ đó cho đến nay đã gần 20 năm liên tục, gia đình không biết bà B hiện nay đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết.

Sau khi thụ lý việc dân sự Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, Toà án nhân dân huyện Đông Anh (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 7- Hà Nội) đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số: 02/2025/QĐ-TA ngày 24/4/2025 đối với bà Nguyễn Thị B. Quyết định này đã được đăng, phát trên báo và Đài truyền hình trung ương trong 03 số liên tiếp theo quy định của pháp luật. Thời hạn thông báo là 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (Là ngày 26/4/2025). Tuy nhiên, hết thời hạn thông báo, Tòa án nhân dân khu vực 7- Hà Nội, Ủy ban nhân dân xã Thư Lâm và ông Nguyễn Đức A cùng gia đình vẫn không nhận được bất kỳ tin tức gì của bà B.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định bà B đã biệt tích từ năm 2006, gần 20 năm liên tục mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà B còn sống.

Do đó, yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị B đã chết của ông Nguyễn Đức A là có căn cứ, phù hợp với Điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận. Nội dung Điều luật quy định:

Điều 71. Tuyên bố chết

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

…

d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.

[4] Về xác định ngày chết của bà Nguyễn Thị B: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc thì có căn cứ vững chắc xác định bà B biệt tích từ năm 2006 (Không xác định được rõ ngày, tháng). Thời hạn 05 năm biệt tích được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng là ngày 01/01/2007 theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự.

Do đó, ngày chết của bà Nguyễn Thị B được xác định là ngày đầu tiên kế tiếp ngày kết thúc thời hạn 05 năm kể từ ngày xác định biệt tích là ngày 02/01/2012.

[5] Về quan hệ tài sản của bà B: Quan hệ tài sản của bà B được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của bà B (Nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

[6] Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Người yêu cầu là ông Nguyễn Đức A phải chịu lệ phí không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

[7] Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Hà Nội tham gia phiên họp là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 71; Điều 72; Khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự;

- Khoản 4 Điều 27; Điều 35; Điểm b Khoản 2 Điều 39; Điều 367; Điều 371; Điều 372; Điều 391; Điều 392 và Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Nguyễn Đức A.

Tuyên bố bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1971. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Lỗ Giao, xã Thư Lâm, TP. Hà Nội đã chết ngày 02/01/2012.

2. Quan hệ tài sản của bà Nguyễn Thị B được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của bà B (Nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Đức A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lệ phí, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 72113 ngày 23/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh, TP. Hà Nội (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 7- Hà Nội). Xác nhận ông A đã nộp đủ lệ phí.

4. Ông Nguyễn Đức A có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP

Cỡ chữ