- Tranh chấp gì? "Lê Đức H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 201/2020/QĐ-TA Ngày: 24/12/2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
́
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀ NH PHÔ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần phiên họp gồm có:
- Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Nguyễn Duy Dương.
- Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 24/12/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành mở phiên họp để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quyết định mở phiên họp số: 206/2020/QĐ-TA ngày 16/12/2020 đối với:
Họ và tên: H; giới tính: Nam; Sinh năm: 1978, tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay : Số X đường T, Tổ dân phố Y, phường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: thợ sơn; Trình độ văn hoá: 12/12.
Con ông: L (đã chết) và con bà K.
Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Có sự tham gia của:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk: Ông Y Lương Byă - Chức vụ: Kiểm sát viên.
- Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Vũ Thị Nguyệt – Chuyên viên phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Buôn Ma Thuột.
- Người bị đề nghị: H (có mặt).
Trú tại: Số X đường T, Tổ dân phố Y, phường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NHẬN THẤY:
H là đối tượng nghiện ma túy, đa bi ̣̃ Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phườ ng, thị trấn theo Quyết đi ̣nh số 227/QĐ-UBND ngày 30 tháng 6 năm 2020, thờ i gian áp dụng là 03 tháng kể từ ngày 30 tháng 6 năm 2020. Đến ngày 30 tháng 9 năm 2020, H đã chấp hành xong, được Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B cấp Giấy chứ ng nhâ ̣n đa chẫ
́p hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phườ ng, thị trấn số 876/GCN-UBND.
Ngày 17 tháng 11 năm 2020, Công an phường L, thành phố B lập biên bản vi phạm hành chính đối với H vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy của Bệnh viện đa khoa thành phố Buôn Ma Thuột kết luận: H dương tính với ma túy loại Amphetamin và Methamphetamin.
Ý kiến của đại diện phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Buôn Ma Thuột: Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng H do công an phường L, thành phố B lập đã thể hiện: H là đối tượng nghiện ma túy loại Amphetamin và Methamphetamin. Do vậy, phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Buôn Ma Thuột đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H, thời hạn từ 20 đến 22 tháng.
Ý kiến của đại diện Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột : Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã t uân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra Quyết định mở phiên họp và trình tự thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Xét thấy hồ sơ đã đầy đủ thủ tục và có căn cứ, Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H, thời hạn từ 22 đến 24 tháng.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và lời trình bày của những người tham gia phiên họp, xét thấy:
H là đối tượng nghiện ma túy, bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2006, loại Amphetamin và Methamphetamin. Ngày 30 tháng 6 năm 2020, H đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phườ ng, thị trấn. Ngày 13 tháng 11 năm 2020, H tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị lập biên bản vi phạm hành chính. Như vậy, đã đủ cơ sở xác định H thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H, do Phòng Lao động - thương binh và xã hội thành phố Buôn Ma Thuột lập đã đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Mặc dù biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng, nhưng H vẫn cố ý sử dụng. Xét hành vi của H có tính liên tục, để tạo điều kiện cho H chữa bệnh, lao động, học nghề, cần chấp nhận đề nghị của phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Buôn Ma Thuột, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; các Điều 19, Điều 20 và Điều 22 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 tháng, kể từ ngày H bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk – Thôn 4, xã Hòa Tiến, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Buôn Ma Thuột.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Buôn Ma Thuột; - Phòng LĐ-TBXH TP. Buôn Ma Thuột; - Công an phường L; - UBND phường L; - Cơ sở điều trị cai nghiện tỉnh Đắk Lắk; - Lưu hồ sơ | THẨM PHÁN - CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Nguyễn Duy Dương |