- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Quyết định giải quyết việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Q: Tuyên bố ông Nguyễn Tất T, sinh năm: 1944, nơi cư trú cuối cùng: Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, chết kể từ ngày 01/01/1991.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 201/2018/QĐDS-ST Ngày: 22 - 5 - 2018 V/v: “Tuyên bố một người là đã chết” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Mạnh Cường – Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Ông Lê Thành Phong – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 5 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 732/2017/TLST-DS ngày 15 tháng 12 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số: 181/2018/QĐPH-ST ngày 10 tháng 5 năm 2018.
1.Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1953, địa chỉ cư trú: Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người bị yêu cầu: Ông Nguyễn Tất T, sinh năm: 1944, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1948, địa chỉ cư trú: Tổ 20, xã D, huyện E, tỉnh Lâm Đồng
Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1950, địa chỉ cư trú: Đường F, Phường G, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Theo đơn yêu cầu ngày 15 tháng 12 năm 2017 và lời trình bày của ông Q trong quá trình giải quyết việc dân sự thì cha ông là Nguyễn Văn Ch, sinh năm: 1910 (Đã chết) và mẹ ông là Nguyễn Thị N, sinh năm: 1911 (Đã chết) sống chung với nhau có 04 người con gồm ông và 03 người còn lại là:
1.Ông Nguyễn Tất T, sinh năm: 1944
2.Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1948
3.Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1950
Ông T sống độc thân, không có vợ con. Sau khi học tập cải tạo xong vào năm 1975, ông T đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 1990 có thể là đi vượt biên vì lúc đó đời sống kinh tế khó khăn, kể từ đó đến nay không có tin tức gì về ông T mặc dù gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có kết quả. Nay ông yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T chết để ông tiến hành thủ tục khai di sản thừa kế.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông C trình bày: Thống nhất với yêu cầu của ông Q tuyên bố ông T là đã chết.
Bà M trình bày: Thống nhất với yêu cầu của ông Q tuyên bố ông T là đã chết.
Tại phiên họp: Ông Q, ông C và bà M có đơn xin vắng mặt tại phiên họp và vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T là đã chết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp:
Về thẩm quyền giải quyết việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết: Tòa án nhân dân quận Gò Vấp thụ lý là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết việc dân sự, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng luật định.
Về nội dung: Tuyên bố ông Nguyễn Tất T, sinh năm: 1944, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, chết kể từ ngày 01/01/1991.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
. Về tố tụng:
Về thẩm quyền của Tòa án: Xét đơn của ông Q yêu cầu tuyên bố ông T đã chết là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng: Do đương sự: Ông Q, ông C và bà M có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp, vì vậy căn cứ Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt đối với các đương sự nêu trên.
. Xét yêu cầu của đương sự: Căn cứ vào trích lục khai sinh ông Nguyễn Tất T số: 1082/TLKS-BS ngày 10 tháng 4 năm 2017 của Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; giấy thế vì khai sanh cho Nguyễn Văn C số: 34542/HT ngày 11 tháng 11 năm 1958 của Phòng lục sự Tòa hòa giải Sài Gòn và trích lục khai sinh ông Nguyễn Văn C số: 1960/TLKS-BS ngày 27 tháng 4 năm 2018 của Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; trích lục khai sinh bà Nguyễn Thị M số: 1963/TLKS-BS ngày 27 tháng 4 năm 2018 của Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; giấy thế vì khai sanh cho Nguyễn Văn Q số: 34542/HT ngày 11 tháng 11 năm 1958 của Phòng Lục sự Tòa hòa giải Sài Gòn thì xác định được ông Thành, ông C, bà M và ông Q có cha là Nguyễn Văn Ch và mẹ Nguyễn Thị N.
Căn cứ vào giấy thế vì khai sanh cho Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Q số: 34542/HT ngày 11 tháng 11 năm 1958 của Phòng lục sự Tòa hòa giải Sài Gòn có ghi chú ông Nguyễn Văn Ch chết và căn cứ vào giấy chứng tử số: 00046/QH, quyển số: 01/2003 của Ủy ban nhân dân Phường 7, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện bà Nguyễn Thị N đã chết. Do cha mẹ của ông T đã chết nên ông Q là em ông T có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T là đã chết.
Xét đơn của ông Q yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T chết: Theo tờ khai gia đình năm 1971 lưu tại tàng thư Công an quận Gò Vấp ghi ông T là con của ông Nguyễn Văn Ch và mẹ là Nguyễn Thị N, có đi học tập cải tạo và kết quả xác minh của Công an Phường 7, quận Gò Vấp thì ông T cư trú tại số: Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 1990, ông T đã bỏ địa phương đi đâu không rõ và đã bị cắt hộ khẩu. Theo kết quả xác minh ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Ủy ban nhân dân Phường 7, quận Gò Vấp thì qua kiểm tra cơ sở dữ liệu máy tính và sổ bộ đăng ký kết hôn lưu trữ tại Phường 7, quận Gò Vấp, từ năm 1994 đến nay không tìm thấy ông Nguyễn Tất T, sinh năm: 1944. Ngày 27 tháng 12 năm 2017, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp đã ban hành thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và ông Q cũng đã tiến hành đăng tin trên báo Công lý và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam. Tòa án nhân dân quận Gò Vấp cũng đã gửi công văn đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để đăng tin tìm kiếm ông T trên cổng thông tin điện tử của các cơ quan theo luật định cho đến nay đã hết thời hạn pháp luật quy định nhưng vẫn không có tin tức gì về ông T. Như vậy, xác định được nơi cư trú cuối cùng của ông T là Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Do ông T biệt tích 05 năm liền trở lên, mặc dù ông Q đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về ông T nên ông Q yêu cầu Tòa án nhân dân quận Gò Vấp tuyên bố ông Nguyễn Tất T đã chết là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015.
3/ Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 21, khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Q: Tuyên bố ông Nguyễn Tất T, sinh năm: 1944, nơi cư trú cuối cùng: Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, chết kể từ ngày 01/01/1991.
2. Các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Nguyễn Tất T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Ông Nguyễn Văn Q phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số: AA/2017/0028190 ngày 15 tháng 12 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, ông Q đã nộp đủ lệ phí.
4. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục Thi hành án dân sự cùng cấp; - Ủy ban nhân dân Phường 7, quận Gò Vấp; - Lưu hồ sơ vụ án. | Trần Mạnh Cường |