vanban.org

Quyết định 20/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với anh Trần Ngọc T1. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 12 (mười hai) tháng kể Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 20/QĐ-TAThành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Hoàng Thị T.

2. Thư ký phiên họp: Ông Huỳnh Trọng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân khu

vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số F, Thành phố Hồ

Chí Minh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 09/QĐ-TA ngày 29 tháng 8 năm 2025, đối với:

Họ và tên: Trần Ngọc T1. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 20 tháng 8 năm 1992.

Căn cước công dân số: 077092009363. Ngày cấp: //. Nơi cấp: //

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 09/12.

Nguyên quán: Quảng Trị.

Hộ khẩu thường trú:: Thôn T, xã N, tỉnh Quảng Trị.

Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông: Trần Ngọc T2 và bà Nguyễn Thị T3.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh M - Cán bộ Công an xã H,

Thành phố Hồ Chí Minh - Theo Văn bản uỷ quyền số 516/UQ-CAX ngày 08/9/2025.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh:

Ông Cù Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Trưởng Công an xã H, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành văn bản số 12/ĐN-

CAX, ngày 21/7/2025 về việc đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy số F, Thành phố Hồ Chí Minh đối với anh Trần Ngọc T1 về hành vi vi phạm như sau:

Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai ngày 07/7/2025 anh Trần Ngọc T1

khai nhận, bản thân đang có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã N, tỉnh Quảng Trị nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa chỉ trên. Bản thân bắt đầu sử dụng ma tuý từ năm 2019 và lần cuối cùng sử dụng là ngày 04/7/2025 có sử dụng với một người bạn tên L và tên T4 ở vườn điều thuộc khu phố A, phường M, Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó anh T1 đi xuống xã H chơi. Ngày 07/7/2025 Công an xã H đã thực hiện xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với anh T1, kết quả xét nghiệm cho thấy anh T1 dương tính với ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 07/7/2025 của Trạm y tế thị trấn P xác định anh T1 có nghiện ma túy Đá (Methamphetamine). Sau khi có kết quả, xác định anh T1 có nghiện ma túy, anh T1 được thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện và thực hiện hành vi đăng ký cai nghiện tự nguyện. Tuy nhiên anh T1 đã từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện nên đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Vì vậy, ngày 16/7/2025 anh Trần Ngọc T1 bị Công an xã H, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản số 10/BB-VPHC về việc vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Từ những cơ sở và căn cứ nêu trên, ngày 16/7/2025 Công an xã H đã có Thông

báo số 11/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đồng thời, Trưởng Công an xã H, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 24/QĐ-QLNN ngày 08/7/2025 về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Ngọc T1 và căn cứ điểm a khoản 2 Điều 131 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và khoản 2 Điều 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 21/12/2021 giao anh T1 cho Cơ sở Cai nghiện ma túy số 6, Thành phố Hồ Chí Minh quản lý từ ngày 08/7/2025 đến khi có quyết định của Tòa án.

Sau khi lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện

bắt buộc theo đúng thủ tục quy định tại Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 7 và Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân Tối cao. Trưởng Công an xã H, Thành phố Hồ Chí Minh chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp:

- Đại diện người đề nghị trình bày: anh Trần Ngọc T1 có hành vi sử dụng trái

phép chất ma túy, theo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy thì anh T1 nghiện ma túy, loại ma túy Đá (Methamphetamine) và đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm. Anh T1 được xác định là người không có nơi cư trú ổn định nên thuộc đối tượng quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện nên đã vi phạm khoản 1 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy năm 2021. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh xem xét ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T1 một thời gian, giúp anh T1 trở thành người có ích cho xã hội. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 10-14 tháng.

- Ý kiến của Viện kiểm sát:

Thẩm phán, thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý

hành chính theo quy định tại các Điều 8, 9, 10, 12, 13, 15, 17 và Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Q (sau đây viết tắt là Pháp lệnh); người tham gia phiên họp thực hiện đúng quy định tại Điều 19, Điều 20 của Pháp lệnh.

Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T1 là

cần thiết, đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa anh T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Người bị đề nghị trình bày ý kiến:

Anh Trần Ngọc T1 thừa nhận sử dụng ma túy nhiều lần, thời gian bắt đầu sử

dụng ma túy từ năm 2019, gần đây nhất là vào ngày 04/7/2025 có sử dụng ma túy cùng với bạn tên là N và T4 tại phường M, Thành phố Hồ Chí Minh. Loại ma túy sử dụng là ma túy dạng Đ (Methamphetamine) và đề nghị Hội đồng phiên họp xem xét giảm thời gian chấp hành.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và nghe lời trình

bày của Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị tại phiên họp và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp.

XÉT THẤY:

1. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

- Thời hiệu giải quyết: Ngày 04/7/2025 anh Trần Ngọc T1 có hành vi sử dụng

trái phép chất ma tuý. Ngày 16/7/2025, anh T1 bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngày 11/9/2025, Tòa án mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T1 là còn trong thời hiệu, theo quy định tại Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).

- Thẩm quyền giải quyết: Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 14

- Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 3 của Pháp Lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).

- Trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Sau khi xác định anh Trần Ngọc T1 là người

nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định và từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành thủ tục lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại các Điều 40, 41, 42, 43, 44 và 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân Tối cao.

2. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:

Anh Trần Ngọc T1 thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

của mình. Lời khai của anh T1 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của Cơ quan đề nghị. Xác định, vào ngày 04/7/2025 anh T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã tự nguyện khai nhận nên đến ngày 07/7/2025, Công an xã H, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản xét nghiệm chất ma túy, kết quả cho thấy anh T1 dương tính với ma túy. Căn cứ Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế thị trấn P ngày 07/7/2025 thì anh Trần Ngọc T1, sinh năm 1992 có nghiện ma túy dạng Đá (Methamphetamine). Như vậy, hành vi của anh T1 đã vi phạm Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

3. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Tình tiết tăng nặng: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ: Anh Trần Ngọc T1 đã tự nguyện khai báo, thành thật

hối lỗi nên căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) xem xét giảm nhẹ một phần mức thời gian áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

4. Mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: Anh Trần Ngọc T1 biết rõ

ma túy, loại Methamphetamine (Đá) là chất gây nghiện, có sức tàn phá đối với sức khỏe, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Đồng thời, anh T1 cũng nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là xâm phạm trực tiếp đến quản lý Nhà nước về phòng, chống ma túy.

5. Lý do, căn cứ áp dụng:

- Lý do áp dụng: Trưởng Công an xã H, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị áp

dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Ngọc T1 là cần thiết để hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội, giúp anh T1 dừng sử dụng chất ma túy, phục hồi thể chất, tinh thần, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi để chấm dứt việc sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

- Căn cứ áp dụng: Căn cứ vào các Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 110 và

131 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; các Điều 2, 3, 7, 8, 20, 22, 23, 30, 31, 32 và 33 của Pháp Lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các Điều 40, 41, 42, 43, 44 và Điều 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 7, Điều 8 và Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C–Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân Tối cao.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với anh Trần Ngọc T1.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 12 (mười hai) tháng kể

từ ngày Tòa án công bố quyết định được trừ vào thời gian quản lý tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc, từ ngày 08 tháng 7 năm 2025 đến ngày 11 tháng 9 năm 2025.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị và thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị:

Thời hạn khiếu nại của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 05 ngày

làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định;

Thời hạn kiến nghị của Cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng

cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã H, Thành phố Hồ Chí Minh tổ

chức thi hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ