vanban.org

Quyết định 20/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/02/2005; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm T, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang;

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời hạn kiến nghị của Công an thị trấn CM và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM là 05 ngày làm việc kể từ ngày T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cai nghiện bặt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/02/2005; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm T, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang;
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 20/QĐ-TA
CM, ngày 27 tháng 3 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: ông Phạm Văn Dương.

2. Thư ký phiên họp: ông Võ Xuân Hoài.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 22/QĐ-TA ngày 20 tháng 03 năm 2025 đối với:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/02/2005; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: khóm Thị, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang;

Nghề nghiệp: không;

Dân tộc: kinh;

Tôn giáo: Phật giáo;

Trình độ văn hóa: 4/12;

Chỗ ở hiện nay: khóm T, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang;

Tiền án: không;

Tiền sự: không.

Con ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị Bích T.

Có mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Tạ Hữu Lam - Trưởng Công an thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang; có đơn yêu cầu vắng mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM tham gia phiên họp: bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên; có mặt.

NHẬN THẤY:

Do Nguyễn Văn T sử dụng chất ma túy nên ngày 12/9/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn CM, huyện CM ban hành Quyết định số 737/QĐ-UBND về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với T với thời gian từ 12/9/2024 đến 12/9/2025. Sau đó, T tiếp tục sử dụng chất ma túy nên ngày 21/02/2025, T bị Công an thị trấn CM đưa đi xét nghiệm, kết quả dương tính với chất Methamphetamine. Ủy ban nhân dân thị trấn CM lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngày 21/02/2025, Công an thị trấn CM ban hành Thông báo số 81/TB-CATT về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T và ấn định thời gian để T đọc, sao chép tài liệu có trong hồ sơ. T đã nhận thông báo này và đã đọc tài liệu có trong hồ sơ theo quy định. Ngày 03/3/2025, Công an thị trấn CM ban hành Đề nghị số 119/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện CM xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T. Tại phiên họp:

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: Thẩm quyền xem xét, thời hiệu, điều kiện áp dụng, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện phù hợp với quy định pháp luật. Nhận thấy, Nguyễn Văn T là người đã trưởng thành, trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng mà tiếp tục tái nghiện. Do đó, Trưởng Công an thị trấn CM đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ, để T có điều kiện được chữa bệnh, lao động và học tập trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội. Tuy nhiên, quá trình lập hồ sơ, T đã thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm pháp luật, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần áp dụng mức chấp hành phù hợp đối với T và phòng ngừa chung trong xã hội. Từ những phân tích trên, đề nghị Tòa án nhân dân huyện CM căn cứ các Điều 9, Điều 95, Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và Điều 32 Luật Phòng chống ma túy năm 2021, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T với thời hạn từ 18 tháng đến 20 tháng.

XÉT THẤY:

* Về tố tụng: Hồ sơ đề nghị của Công an thị trấn CM đúng quy định tại Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020. * Về nội dung: Tại bản tường trình ngày 21/02/2025, người bị đề nghị thừa nhận, trước đó Nguyễn Văn T có sử dụng ma túy. Đến ngày 22/02/2025, T bị Công an thị trấn CM phát hiện, đưa đi xét nghiệm với kết quả dương tính với chất ma túy.

Lời khai nhận của Nguyễn Văn T phù hợp với kết quả xét nghiệm của cơ quan chuyên môn, biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện và điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 26823/BB-VPHC ngày 22/02/2025 do Công an thị trấn CM lập và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đề nghị.

Bên cạnh đó, trước đó, do có sử dụng ma túy nên Nguyễn Văn T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn CM áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng với thời gian từ 12/9/2024 đến 12/9/2025.

Xét Nguyễn Văn T đã thành niên, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú mà vẫn còn vi phạm. Vì vậy, việc Trưởng Công an thị trấn CM đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 nên chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ, T có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 nên cần xét giảm nhẹ cho T khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104, Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020; các Điều 23, 24, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/02/2005; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm T, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang;

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Thời hạn kiến nghị của Công an thị trấn CM và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM là 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn khiếu nại của Nguyễn Văn T là 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thị trấn CM đưa Nguyễn Văn T vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.

Cỡ chữ