vanban.org

Quyết định 20/2025/QĐ-TA

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 26/06/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Đỗ Trọng T, sinh ngày 10/12/1979; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã D, huyện T1, tỉnh T2 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T2.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 (một) năm, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị quản lý đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 05/6/2025). Đỗ Trọng T có quyền khiếu nại, Trưởng Công an phường T4 – Công an tỉnh T2 có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đỗ Trọng T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Đỗ Trọng T, sinh ngày 10/12/1979; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã D, huyện T1, tỉnh T2 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T2.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 20/2025/QĐ-TATP. Thái Bình, ngày 26 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lý.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Duy Long.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh T2, Toà án nhân dân thành phố Thái Bình tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo hồ sơ thụ lý số 20/2025/TLHS ngày 16 tháng 6 năm 2025 và Quyết định mở phiên họp số 20/2025/QĐ-TA ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Đỗ Trọng T, sinh ngày 10/12/1979.

Số CCCD: 034079005647; Ngày cấp 17/4/2017; Nơi cấp: Cục Cảnh sát ĐK, QL cư trú và DL quốc gia về dân cư.

Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã D, huyện T1, tỉnh T2;

Nơi cư trú: Lang thang không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Trình độ văn hóa: 12/12;

Con ông Đỗ Minh T3 và bà Đỗ Thị K.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Công an phường T4 – Công an tỉnh Thái Bình: Bà Phạm Thị Yến - Cán bộ Công an phường T4.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình: Bà Quách Thị Phương - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 05/6/2025, tổ công tác Công an phường T4 – Công an tỉnh T2 làm nhiệm vụ tại khu vực đường Trần Thái T5, tổ 19-20, phường T4, thành phố T2, tỉnh T2 phát hiện Đỗ Trọng T có hành vi lang thang sử dụng trái phép chất ma túy, tổ công tác yêu cầu kiểm tra đối với Đỗ Trọng T. Qua kiểm tra không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì. Sau đó tổ công tác yêu cầu Đỗ Trọng T về cơ quan Công an để làm các thủ tục theo quy định của pháp luật. T khai nhận bản thân là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2020 đến nay, loại ma túy sử dụng là Heroin, sử dụng bằng hình thức chích qua đường mạch máu vào cơ thể. Lần gần đây nhất T sử dụng ma tuý là vào ngày 04/6/2025. Hiện nay T không đăng ký cai nghiện tự nguyện, không tham gia điều trị bằng Methadone thay thế, không bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do nghiện ma túy. Công an phường T4 đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Đỗ Trọng T.

Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 05 tháng 6 năm 2025 của Trạm y tế phường K1, thành phố T2, tỉnh T2, xác định Đỗ Trọng T dương tính với ma túy loại (MOP) Morphine/Heroin.

Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình cho thấy: Đỗ Trọng T, sinh năm 1979; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã D, huyện T1, tỉnh T2 là đối tượng nghiện ma túy, thường xuyên vắng mặt tại địa phương và gia đình, không có nơi cư trú ổn định, đi đâu làm gì không báo cáo chính quyền địa phương và gia đình nên chính quyền địa phương và gia đình không biết, không quản lý được. Hiện nay, Đỗ Trọng T không tham gia điều trị bằng Methadone thay thế, không tham gia cai nghiện bằng bất kỳ hình thức nào, không bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do nghiện ma túy.

Hiện nay, Đỗ Trọng T đang lưu trú tạm thời tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T2 theo Quyết định số: 51/QĐ-UBND-QLNN ngày 05 tháng 6 năm 2025 của UBND phường T4, thành phố T2, tỉnh T2.

Đại diện Công an phường T4 – Công an tỉnh T2 đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trọng T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T2.

Viện kiếm sát nhân dân thành phố Thái Bình đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình căn cứ vào khoản 2 Điều 9; Điều 95, 96, 103, 105, 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; điểm k, khoản 3 Điều 21, 23, 24, 25, 30, 31, 32, 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 27, 28, 32 Luật Phòng, chống ma túy và các Điều 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46 và 47 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy đề nghị quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trọng T thời hạn từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T2.

XÉT THẤY

Về tính hợp pháp của hồ sơ: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trọng T đã được Công an phường T4 thu thập tài liệu, xác minh, lập hồ sơ đầy đủ, đã có kết luận của cơ quan y tế xác định Đỗ Trọng T là đối tượng nghiện ma túy; Trưởng Công an phường T4 đã kiểm tra hồ sơ và có văn bản đề nghị về việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình. Hồ sơ đề nghị là hợp pháp theo đúng quy định tại Điều 95, 96, 103, 104, 105, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 27, 28, 32 Luật Phòng, Chống Ma túy và các Điều 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng thấy: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Trọng T đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng tệ nạn ma túy trong cộng đồng, gây tác động tiêu cực đến công tác đấu tranh chống tệ nạn ma túy nói chung và trên địa bàn thành phố T2 nói riêng. Đỗ Trọng T nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng do không làm chủ được bản thân nên đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2020 đến nay. Đỗ Trọng T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình làm việc tại cơ quan công an và tại phiên họp, Đỗ Trọng T tự nguyện khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Đỗ Trọng T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn Đ, xã D, huyện T1, tỉnh T2 nhưng thường xuyên vắng mặt tại gia đình và địa phương, đi đâu làm gì gia đình và địa phương không biết, không quản lý được thuộc trường hợp không có nơi cư trú ổn định. Hiện nay Đỗ Trọng T không tham gia chương trình cai nghiện tại cộng đồng và cũng không cai nghiện tại gia đình, không bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do nghiện ma túy.

Tòa án xét thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy có tác động xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sự phát triển trí tuệ, thể chất của con người, làm suy thoái đạo đức, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm, do đó việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trọng T như đề nghị của Công an phường T4 và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình là cần thiết và đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 27, Điều 28, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Khoản 3 Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy.

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Đỗ Trọng T, sinh ngày 10/12/1979; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã D, huyện T1, tỉnh T2 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T2.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 (một) năm, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị quản lý đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 05/6/2025).

3. Đỗ Trọng T có quyền khiếu nại, Trưởng Công an phường T4 – Công an tỉnh T2 có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày 26/6/2025.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an phường T4 – Công an tỉnh T2 đưa Đỗ Trọng T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T2.

Cỡ chữ