- Tranh chấp gì? "Nguyễn Giang N"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Giang N.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Số: 20/2023/QĐ-TA | M, ngày 20 tháng 9 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH QUẢNG NINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: ông Nguyễn Thùy Dương
Thư ký phiên họp: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh
Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 22/2023/QĐ-TA ngày 15 tháng 9 năm 2023, đối với:
Họ và tên: Nguyễn Giang N; giới tính: N; sinh ngày 13 tháng 02 năm 1986; căn cước công dân số: 022086005477; dân tộc: kinh; tôn giáo: công giáo; trình độ văn hóa: 9/12; nguyên quán: phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; tiền án: 01 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” xử phạt 15 tháng tù giam, chấp hành xong ngày 11/7/2023; tiền sự: chưa có; nhân thân: cai nghiện ma túy tự nguyện 04 lần tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh: Lần 1 (01 năm, 2014 - 2015); Lần 2 (01 năm, 2016 - 2017); Lần 3 (01 năm, từ 10/6/2018 đến 10/6/2019); Lần 4 (06 tháng, từ 15/12/2020 đến 15/6/2021); con ông Nguyễn Công T và bà Nguyễn Thị L. Vắng mặt tại phiên họp, có lý do.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Trần Nguyên Ngọc - Phó Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M (theo Giấy ủy quyền số: 20/GUQ, ngày 19/9/2023 của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M về việc ủy quyền tham gia phiên họp).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M: ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 11/7/2023 Nguyễn Giang N chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương, do không làm chủ được bản thân nên đã tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Mỗi ngày N sử dụng ma túy ít nhất một lần, loại ma túy sử dụng là Heroine, N tự nhận thấy mình đã tái nghiện nên viết đơn xin xác định tình trạng nghiện tại Trung tâm Y tế thành phố M. Kết quả xác định N là người nghiện ma túy.
Nguyễn Giang N đã 04 lần đi cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh, tự nhận thấy thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện ma túy tỉnh Quảng Ninh không đủ dài để có thể cai nghiện được ma túy và tránh xa ma túy. Vì vậy, N đã viết giấy cam kết không đăng ký cai nghiện tự nguyện và đồng ý xem xét thủ tục cai nghiện bắt buộc. Công an phường Trà Cổ đã tiếp nhận nội dung yêu cầu của Nguyễn Giang N lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm sinh hóa nước tiểu của Trung tâm Y tế thành phố M ngày 26/8/2023, đối với Nguyễn Giang N thể hiện kết quả dương tính với ma túy (định tính morphin)
Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm Y tế thành phố M ngày 30/8/2023, xác định: anh Nguyễn Giang N nghiện ma túy, loại: “Heroine”.
Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai của Nguyễn Giang N đều thừa nhận bản thân nghiện ma túy từ năm 2008, thời điểm N sử dụng ma túy lần cuối là vào tối ngày 25/8/2023. Ngày 30/8/2023 N viết giấy cam kết về việc không đăng ký cai nghiện tự nguyện gửi Ủy ban nhân dân phường T, thành phố M, xác định mỗi ngày N đều sử dụng ma túy ít nhất một lần, loại ma túy mà N sử dụng là Heroine, N tự thấy mình đã tái nghiện ma túy nên đã làm đơn tự nguyện đến Trung tâm Y tế thành phố M xin xác nhận tình trạng nghiện. Kết quả xác định N là người nghiện ma túy và nhận thức được việc nghiện ma túy rất có tác hại cho bản thân, gia đình và cộng đồng nên N có mong muốn được cai nghiện, N đã tự nguyện đi cai ma túy nhưng thấy thời gian không đủ dài để N có thể tránh xa với ma túy. Vì vậy, N cam kết không đăng ký cai nghiện tự nguyện, nhưng đồng ý xem xét thủ tục cai nghiện bắt buộc và chấp hành Quyết định cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân thành phố M, cam kết sẽ không khiếu nại, khiếu kiện gì.
Ngày 31/8/2023, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định số: 87/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cùng ngày, Công an phường Trà Cổ, thành phố M đã bàn giao Nguyễn Giang N vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh để quản lý theo quyết định nêu trên.
Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M thể hiện tại Văn bản số: 20/ĐN-CNBB ngày 08/9/2023 đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Giang N tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh (địa chỉ: thôn Đ, xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh).
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố M giữ nguyên quan điểm trong Văn bản số 20 nêu trên và đề nghị thời gian chấp hành cai nghiện là từ 21 (hai mươi mốt) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng, để N có thời gian chữa trị, phục hồi.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về trình tự thực hiện thủ tục và giải quyết việc xem xét, đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Giang N đã được Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố M, Tòa án nhân dân thành phố M thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý, điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116 đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Giang N trong thời hạn từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên.
Người bị đề nghị: quá trình giải quyết việc, cơ quan có thẩm quyền đã tống đạt hợp lệ các văn bản cho Nguyễn Giang N theo quy định của pháp luật, N có ý kiến đề nghị giải quyết vắng mặt.
Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ việc và ý kiến của những người tham gia phiên họp.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Giang N, do Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố M lập là hợp pháp, đúng trình tự pháp luật quy định.
Nguyễn Giang N là người đã thành niên, nhận thức và biết rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do không làm chủ được bản thân nên vẫn cố ý thực hiện và đã nghiện ma túy từ đầu năm 2008 đến nay. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của N là nguy hiểm cho bản thân và ảnh hưởng xấu cho xã hội, còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác.
Qua xem xét nội dung báo cáo của Công an phường T, thành phố M, Nguyễn Giang N đã 04 lần đi cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh, nhưng N tự thấy thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện không đủ dài để có thể cai nghiện tránh xa ma túy. N đã viết giấy cam kết không đăng ký cai nghiện tự nguyện và đồng ý xen xét thủ tục cai nghiện bắt buộc. Nội dung này phù hợp với biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, biên bản ghi lời khai, phiếu kết quả xét nghiệm sinh hóa nước tiểu, phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy cùng các tài liệu khác có trong đề nghị, có đủ cơ sở để xác định: Nguyễn Giang N là người sử ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, là đối tượng theo khoản 1 Điều 96 Luật xử phạt hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); hơn nữa, N không đăng ký, không thực hiện cai nghiện tự nguyện phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy. Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm, do đó, việc đưa N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết, để giúp N được học tập, lao động, chữa bệnh, có cơ hội cai nghiện ma tuý để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M có cơ sở để chấp nhận.
Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình thiết lập hồ sơ, N đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên xem xét cho N hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Tình tiết tăng nặng: Nguyễn Giang N có 01 tiền án chưa được xóa án tích về tội “trộm cắp tài sản”. Mặt khác, N có nhân thân xấu, đã 04 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên cần xem xét khi quyết định thời gian bắt buộc chữa bệnh.
Căn cứ: Điều 6; khoản 2 Điều 9; khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105 và điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;
Căn cứ: Điều 3; Điều 24; Điều 30; Điều 31 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về “trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân”; Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Giang N.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Quảng Ninh (địa chỉ: thôn Đ, xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) tiếp nhận quản lý người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
3. Nguyễn Giang N có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định này. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh.
| Nơi nhận: - Trưởng Phòng LĐTB&XH thành phố M; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh; - Người bị áp dụng; - UBND xã T, thành phố M; - Lưu hồ sơ/VT. | THẨM PHÁN (đã ký) Nguyễn Thùy Dương |