- Tranh chấp gì? án hình sự — "trôm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 c a y ban thường vụ Quốc Hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HS-ST Ngày 29/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đạt Thông.
Ông Dương Thanh Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Liêng Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Minh Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Bùi Minh T1 sinh ngày 29/9/1999, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: khóm 5, thị trấn LT, huyện DH, tỉnh T; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ H vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Minh T, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1979; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam ngày 22/3/2022 cho đến nay ( Có mặt tại phiên tòa).
Thạch Thanh T2 sinh ngày 21/02/2002, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp TK, xã LK, huyện DH, tỉnh T; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ H vấn: 8/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch Thanh T, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị Trúc T, sinh năm 1983; Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 09/6/2021 Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm 06 tháng đến nay chưa chấp hành. Bị cáo bị tạm giam ngày 23/3/2022 cho đến nay ( Có mặt tại phiên tòa).
- h i: Anh Trần Sang M, sinh năm 1980. Nơi cư trú: ấp Đ, x LK, huyện DH, tỉnh T (Xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ ngày 25/4/2021 do cần tiền tiêu xài cá nhân nên các đối tượng gồm: Bùi Minh T1, Thạch Thanh T2, Lê Anh K và một đối tượng tên N (không r họ, năm sinh và địa chỉ) đ phát hiện và thống nhất sẽ cùng nhau đi lấy trộm 01 (một) máy n hiệu Diezel anmar SS80 (chạy b ng dầu) màu đ c a anh Trần Sang M để tại khu đất trống trước nhà anh M thuộc ấp ĐC, x LK, huyện DH, tỉnh T. Tuy nhiên, do lúc này nhà anh M còn bật đèn sáng nên cả nhóm quay trở về nhà c a K. Đến khoảng 23 giờ ngày 25/4/2021 K và N điều khiển 02 xe mô tô, còn Thạch Thanh T2 chạy xe đạp chở Bùi Minh T1 cùng nhau đi đến khu vực đất trống nơi để chiếc máy n . Tại đây, cả nhóm cùng nhau dùng tay khiêng chiếc máy n để lên xe c a K để cho K điều khiển xe mô tô chở máy n v a trộm được đem về nhà K, còn Bùi Minh T1, Thạch Thanh T2 và đối tượng tên N chạy theo sau cùng trở về nhà c a K. Tại nhà c a K, Bùi Minh T được K đưa cho số tiền 70.000 đồng để tiêu xài cá nhân, Thạch Thanh T2 được K đưa cho số tiền 130.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Sau đó, cả nhóm đợi đến khoảng 4 giờ sáng ngày 26/4/2021 để phụ khiêng chiếc máy n v a trộm được để lên xe c a K, cho K tiếp tục dùng xe mô tô c a mình chở máy n trộm được đem đến trước nhà ông Học thu mua phế liệu. Sau đó, K nhờ m ruột là bà T bán hộ. Bà T đồng ý nên đến chiều ngày 26/4/2021 sau khi đi mua phế liệu về bà T đi đến nhà ông Học để bán phế liệu v a mua được cùng với cái máy n mà K nhờ bán hộ. Tại đây nhà ông H, bà T bán cho bà Tuyết (vợ ông Học) cái máy n i được số tiền 390.000 ( a tr m ch n m i ngh n ) đồng. Số tiền này bà T gi lại để tr vào số tiền 400.000 ( ốn tr m ngh n) đồng mà K đ mượn trước đó. Sáng ngày 26/4/2021 anh M phát hiện bị mất chiếc máy n , nhưng đến ngày 19/5/2021 anh M mới trình báo Cơ quan Công an.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 31/5/2021 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Duyên Hải kết luận như sau: 01 (một) máy n Diezel anmar SS80 màu đ , đ qua sử dụng có giá trị 4.550.000 ( ốn tri u n m tr m n m m i ngh n) đồng.
Ngày 23/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải ra quyết định khởi tố vụ án, đến ngày 08/7/2021 ra quyết định khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Lê Anh K, Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 về hành vi trộm cắp tài sản. Trong quá trình thi hành lệnh bắt Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 không có mặt tại địa phương. Qua xác minh, đối tượng Bùi Minh T1 đang làm thuê tại ấp Tiền Lân, x Bà Điểm, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh và Thạch Thanh T2 đang làm thuê tại ấp Lồ , x n Tây, thị x Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Do phải thực hiện gi n cách x hội để phòng chống dịch bệnh Covid -19 theo chỉ thị c a Th tướng chính ph và chỉ thị c a Ch tịch y ban nhân dân tỉnh Trà Vinh nên không thể thi hành lệnh bắt đối với Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 nên Cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định tách riêng vụ án và quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 vào ngày 23/10/2021.
Đối với Lê nh K đ bị Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải xử phạt 07 tháng t về tội trộm cắp tài sản vào ngày 26/11/2021.
Đối với đối tượng tên N không r họ và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra sẽ làm r và xem xét, xử lý sau.
Đối với bà Lê Thị Thu T là người trực tiếp bán tài sản do K cùng với đồng bọn phạm tội mà có và bà Lê Thị Tuyết là người mua tài sản do phạm tội mà có. Trong quá trình điều tra đ ch ng minh được bà T và bà Tuyết không biết tài sản hai bên mua bán là do phạm tội mà có nên cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét, xử lý về hình vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Về vật ch ng:
- Chiếc xe mô tô (không r biển số) c a Lê Anh K sử dụng làm phương tiện phạm tội; 01 (một) máy n Diezel anmar SS80 màu đ , đ qua sử dụng; Số tiền 390.000 ( a tr m ch n m i ngh n ) đồng do bán chiếc máy n là tài sản có được do phạm tội đ được tuyên xử lý theo bản án hình sự sơ thẩm số 03/2021/HS-ST ngày 26/11/2021 c a Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải.
- Chiếc xe đạp Thạch Thanh T2 làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, đ ch ng minh được là tài sản c a ông Thạch Thanh T cha ruột c a Thạch Thanh T2. Ông T không biết việc Thạch Thanh T2 lấy xe c a ông để làm phương tiện đi trộm tài sản. Do chiếc xe không còn giá trị sử dụng nên ông bán phế liệu không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Sang M không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.
Ngày 23/3/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự, phục hồi điều tra bị can đối với Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 để tiếp tục điều tra.
Qua quá trình điều tra Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 khai nhận đ cùng đồng bọn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 (một) máy n Diezel anmar SS80 màu đ , đ qua sử dụng c a anh Trần Sang M.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 07/6/2022 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đ truy tố bị cáo Bùi Minh T và Thạch Thanh T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 khai nhận đ thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đ truy tố.
Theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 26/7/2022 anh M yêu cầu xử phạt các bị cáo theo quy định c a pháp luật. Về trách nhiệm dân sự anh M không yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị tài sản đ bị mất.
hát biểu quan điểm luận tội c a Vị kiểm sát viên tại phiên tòa: kiến c a Kiểm sát viên: Gi nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 phạm tội “ trộm cắp tài sản. Về m c hình phạt đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Minh T1 t 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thạch Thanh T2 t 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù. Về trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề nghị xem xét, giải quyết; Về xử lý vật ch ng: Đề nghị không xem xét, giải quyết do đ được xem xét, giải quyết trong bản án hình sự sơ thẩm số 03/2021/HS-ST ngày 26/11/2021 c a Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải. Riêng đối với chiếc xe đạp Thạch Thanh T2 làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội là tài sane c a ông Thạch Thanh T, do hết giá trị sử dụng và ông Tú đ đem đi bán phế liệu không thu hồi được nên không xem xét, giải quyết. Về án phí đề nghị áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a y ban thường vụ Quốc hội buộc bị các cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.
Bị cáo Bùi Minh T1 nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo để bị cáo được về sớm với gia đình trở thành người công dân tốt.
Bị cáo Thạch Thanh T2 nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo để bị cáo được về sớm với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra, xét h i, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tội danh: Qua quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa bị cáo Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình. Lời khai nhận c a các bị cáo phù hợp với các tài liệu, ch ng c khác đ được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở kh ng định: Vào khoảng 23 giờ ngày 25/4/2021 do cần tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 cùng đồng bọn thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) máy n hiệu Diezel anmar SS80 (chạy b ng dầu) màu đ c a anh Trần Sang M để tại khu đất trống trước nhà anh M thuộc ấp Đình C , x Long Khánh, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, có giá trị 4.550.000 ( ốn tri u n m tr m n m m i ngh n) đồng. Như vậy, hành vi c a các bị cáo đ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật hình sự.
. Về tính chất hành vi: Khi thực hiện hành vi, các bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận th c và điều khiển hành vi c a mình, các bị cáo biết đây là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng do bản chất tham lam, lười biếng lao động nên các bị cáo đ bất chấp và lợi dụng đêm khuya, tài sản không ai trông côi nên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản c a người khác. Hành vi c a các bị cáo đ xâm hại trực tiếp đến quyền sở h u tài sản hợp pháp c a người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây b c xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi c a bị cáo gây ra.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
. Về các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Nhận thấy đây là lần đầu các bị cáo phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là nh ng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Việc Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nh nêu trên cho bị cáo là thể hiện chính sách khoan hồng c a pháp luật.
Trong vụ án này, trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gi a các bị cáo không sự phân công, sắp xếp nhiệm vụ t trước, các bị cáo thống nhất cùng nhau thực hiện hành vi, không ai xúi giục hay ép buộc ai phải thực hiện hành vi sai phạm. Đáng lẽ các bị cáo sẽ được hưởng m c hình phạt b ng nhau. Tuy nhiên, xét về nhân thân c a các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Bùi Minh T1 có nhân thân tốt, không có tiền án hay tiền sự. Riêng bị cáo Thạch Thanh T2 có nhân thân xấu, cụ thể: Vào ngày 20/2/2020 bị cáo bị Công an x Long Khánh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 750.000 đồng đến nay bị cáo chưa thi hành quyết định xử phạt, do thời hiệu thi hành c a quyết định đ hết nên đây không được xem là tiền sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, Ngày 09/6/2021 Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm 06 tháng đến nay bị cáo chưa chấp hành. Qua đó cho thấy, thái độ và ý th c chấp hành pháp luật c a bị cáo Thạch Thanh T2 rất kém. Do đó, bị cáo Thạch Thanh T2 phải chịu m c hình phạt nặng hơn bị cáo Bùi Minh T như vậy mới đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ng a chung cho x hội.
[5 . Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Sang M không yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị mất và c ng không có yêu cầu gì khác đối với các bị cáo nên không xem xét, giải quyết.
. Về xử lý vật ch ng: Chiếc xe đạp Thạch Thanh T2 làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, đ ch ng minh được là tài sản c a ông Thạch Thanh T cha ruột c a Thạch Thanh T2. Ông T không biết việc Thạch Thanh T2 lấy xe c a ông để làm phương tiện đi trộm tài sản. Do chiếc xe không còn giá trị sử dụng nên ông bán phế liệu không thu hồi được nên không xem xét, giải quyết.
. Đối với Lê nh K đ bị Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải xử phạt 07 tháng t về tội trộm cắp tài sản vào ngày 26/11/2021.
[8 . Đối với đối tượng tên N cùng thực hiện hành vi trộm cắp với bị cáo K do không r họ và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra sẽ làm r và xem xét, xử lý sau. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[9 . Đối với bà Lê Thị Thu T và bà Lê Thị T do không biết tài sản giao dịch là do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét, xử lý về hình vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là đảm bảo đúng quy định c a pháp luật.
[10 . Về tài liệu, ch ng c do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là ch ng c hợp pháp.
[11 . Về tính hợp pháp c a các hành vi, quyết định tố tụng c a Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đ thực hiện đúng và đầy đ trình tự th tục tố tụng theo quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố đúng quy định c a pháp luật.
. Xét thấy bản cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải đ truy tố bị cáo Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Xét thấy đề nghị c a Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh về điều luật áp dụng, tội danh, về m c hình phạt, xử lý vật ch ng là phù hợp với quy định c a pháp luật nên chấp nhận.
. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 c a y ban thường vụ Quốc Hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Bùi Minh T1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính t ngày 22 tháng 3 năm 2022. Xử phạt bị cáo Thạch Thanh T2 09 (chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính t ngày 23 tháng 3 năm 2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
3. Về xử lý vật ch ng: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Minh T1 và Thạch Thanh T2 mỗi người phải nộp 200.000 (Hai tr m ngh n) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy đ nh t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc b c ỡng chế thi hành án theo quy đ nh t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án đ ợc thực hi n theo quy đ nh t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - T ND tỉnh Trà Vinh; - VKSND tỉnh Trà Vinh; - ST tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Duyên Hải; - C huyện Duyên Hải; - CCTH DS huyện Duyên Hải; - UBND xã Long Khánh; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Th M Linh |