- Tranh chấp gì? án hình sự — "A - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 58/QĐ-VC2 ngày 01/8/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 389 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 20/2022/HS-GĐT Ngày 09 tháng 9 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đặng Kim Nhân
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: ông Nguyễn Văn Tào và ông Phạm Việt Cường
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Tố Nga - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đoàn Minh Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
Người bị kết án:
A, sinh năm 1975; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: làm nông; trú tại: Khu Phố Ninh Tịnh 4, phường 8, thành phố H, tỉnh Y; con ông Bùi Văn Svà bà Hoàng Thị Nh; có vợ Nguyễn Thị L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam A20- Bộ Công an đóng tại xã Xuân Ph, huyện Đồng X, tỉnh Y.
Bị hại: Ông C sinh năm 1974; trú tại: khu phố Ninh Tịnh 4, phường 8, thành phố H, tỉnh Y.
Người làm chứng:
1. Ông C, sinh năm 1975;
2. Ông D, sinh năm 1983;
3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975;
Cùng trú tại: khu phố Ninh Tịnh 4, phường 8, TP H, tỉnh Y.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 12/5/2021, A, B, C và D cùng nhau nhậu tại sân nhà của A. Trong lúc nhậu, giữa C và B xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xát, sau đó cả 02 bỏ về. Sau khi về nhà, C lấy 02 con dao quay lại nhà A tìm B để đánh nhưng không thấy B, C đứng trước cổng nhà A lớn tiếng nói A sao đổ xà bần trước cổng nhà C. Thấy C cầm dao nên D chạy ra can ngăn, ôm giữ 02 tay C, C và D vừa giằng co, vừa đi vào trong sân nhà A. Thấy vậy, A lấy 01 cây sắt dài 64,5cm, đường kính 2,16cm (loại sắt dùng trong xây dựng) nhằm vào A đánh 01 nhát từ trên xuống, trúng vào trán phải của C làm vỡ xoang trán phải, vỡ trần hốc mắt phải. A đánh tiếp nhát thứ hai thì D đưa tay lên đỡ, bị trúng vào tay nên D thả C ra thì C ngã sấp mặt xuống nền đất, gãy xương chính mũi.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 155/TgT ngày 25/5/2021, Trung tâm Pháp y tỉnh Y kết luận tỷ lệ thương tích của C như sau: vết thương trán phải khoảng (8 x 01)cm, xưng nề vùng mặt. Vỡ lún xương trán phải, gãy thành trước xoang trán phải. Vỡ vùng trần hốc mắt phải, gãy xương gò má phải. Gãy xương chính mũi. Tụ dịch xoang sàng hai bên. Tổng tỷ lệ thương tích toàn bộ: 25% (Hai mươi lăm phần trăm), vật tác động: Vật tày có cạnh.
Tại Bản kết luận giám định pháp y bổ sung số 202/TgT ngày 18/8/2021, Trung tâm Pháp y tỉnh Y kết luận tỷ lệ thương tích của C như sau: Qua hội chẩn lại phim chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner) ngày 12/5/2021 lúc bệnh nhân mới vào viện, phim Xquang ngày 13/5/2021 và phim chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner) ngày 16/6/2021. Các bác sĩ trong Khoa chẩn đoán hình ảnh nhận định: Không có gãy xương gò má phải. Tại thời điểm giám định, thương tích bổ sung của nạn nhân Lê Bá Linh là 25% (Hai mươi lăm phần trăm), theo phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế. Đánh giá phần tổn thương và di chứng: Khám hiện tại các thương tích, thương tổn trên người nạn nhân Linh chưa để lạị di chứng.
Tại Kết luận điều tra số 88/CSĐT ngày 11/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố H, tỉnh Y đề nghị truy tố A về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại Cáo trạng số 94/CT-VKS-TH ngày 09/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Y truy tố A về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2021/HS-ST ngày 21/12/2021, Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Y quyết định: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo A 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn có quyết định về bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Trong thời hạn kháng cáo, bị cáo Đạt có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
Trước khi xét xử phúc thẩm, A rút kháng cáo.
Ngày 23/3/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Y ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự số 01/2022/HSPT-QĐ.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 58/QĐ-VC2 ngày 01/8/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Y và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 01/2022/HSPT-QĐ ngày 23/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Y đối với A.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, A đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của A phù hợp với lời khai của bị hại, nhân chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở xác định khoảng 21 giờ 00 phút ngày 12/5/2021, A, B, C và D cùng nhau nhậu tại sân nhà A. Trong lúc nhậu, C và B xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xát, sau đó cả 02 bỏ về. Sau khi về nhà, C lấy 02 con dao quay lại nhà A tìm B để đánh nhưng không thấy Hưng, Linh đứng trước cổng nhà A lớn tiếng nói A sao đổ xà bần trước cổng nhà Linh. Thấy C cầm dao nên D chạy ra can ngăn, ôm giữ 02 tay C, C và D vừa giằng co, vừa đi vào trong sân nhà A. Thấy vậy, A lấy 01 cây sắt dài 64,5cm, đường kính 2,16cm (loại sắt dùng trong xây dựng) nhằm vào C đánh 01 nhát từ trên xuống, trúng vào trán phải của C làm vỡ xoang trán phải, vỡ trần hốc mắt phải. Tiếp đó, A đánh nhát thứ hai thì C đưa tay lên đỡ, bị trúng vào tay nên D thả C ra thì C ngã sấp mặt xuống nền đất, gãy xương chính mũi.
Tại Biên bản hỏi cung ngày 10/6/2021, A khai: “... Do lúc đó tôi có men trong người nên mất bĩnh tĩnh, không kiềm chế được nên mới cầm cây sắt trên đánh vào đầu C. Nếu D không cản đỡ một phần thì có thể nhát đánh trên sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng của C...” Như vậy, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong khi ngồi nhậu cùng nhau, A đã lấy hung khí là cây sắt dài 64,5cm, đường kính 2,16cm (loại sắt dùng xây dựng), sau đó đánh 01cái từ trên xuống trúng vào trán phải của C, A tiếp tục đánh nhát thứ hai thì D đưa tay lên đỡ, bị trúng vào tay nên D thả C ra, C ngã sấp mặt xuống nền đất làm anh C bị “vết thương trán phải khoảng (8 x 01)cm, sưng nề vùng mặt. Vỡ lún xương trán phải, gãy thành trước xoang trán phải. Vỡ vùng trần hốc mắt phải. Gãy xương chính mũi. Tụ dịch xoang sàng hai bên”. Tại Biên bản hỏi cung ngày 22/6/2021, A khai: “... Tôi nhận thức được việc cầm cây sắt trên đánh vào vùng đầu Linh có thể gây nguy hiểm đến tính mạng”. Như vậy, A nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhưng vẫn cố ý dùng thanh sắt là hung khí nguy hiểm, nhằm vào đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại Linh, đánh liên tiếp nhiều nhát (trong khi C đã được D ôm giữ 02 tay để can ngăn, không còn khả năng tự vệ), trong đó 01 nhát trúng vào đầu bị hại gây vỡ lún xương trán phải, gãy thành trước xoang trán phải, vỡ vùng trần hốc mắt phải, nhát thứ hai trúng vào tay của D do D đưa tay lên đỡ. Khi D thả C ra thì C ngã không tự chủ sấp mặt xuống nền đất gây gãy xương chính mũi; điều này cho thấy nhát đánh của A rất mạnh. Hậu quả bị hại C không chết là nhờ D cản đỡ một phần và do được đưa đi cứu chữa kịp thời, nằm ngoài ý thức chủ quan của A. Do đó, hành vi của A có đủ yếu tố cấu thành “Tội giết người” quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự. Tòa án nhân dân thành phố H tuyên bố A phạm “Tội cố ý gây thương tích” là không đúng tội danh, dẫn đến xử phạt mức hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà A gây ra. Sau khi Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm, chỉ H kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo và trước khi xét xử phúc thẩm, A rút kháng cáo nên Tòa án nhân dân tỉnh Y đình chỉ xét xử phúc thẩm là đúng pháp luật; tuy nhiên, Quyết định đình chỉ xét xử phuc thẩm số 01/2022/HSPT ngày 23/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Y làm phát sinh hiệu lực của Bản án hình sự sơ thẩm nên cần cần thiết phải hủy cả Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm và bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 382; khoản 1 Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 58/QĐ-VC2 ngày 01/8/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
2. Hủy Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 01/2022/HSPT ngày 23/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Y để điều tra lại theo quy định của pháp luật.
3. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để điều tra lại theo thủ tục chung.
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định.
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tào Phạm Việt Cường
Đặng Kim Nhân
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ GĐKT I); - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND tỉnh Phú Yên; - TAND thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; - VKSND thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; - Chi cục THADS thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; - Trại giam A20 – Bộ Công an (Xuân Phước, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên) 02 bản, để giao cho Bùi Xuân Đạt 01 bản; - Lưu: H/sơ vụ án, Phòng GĐKT I, Phòng HCTP. | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Kim Nhân |