- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... — án lao động — "Huỳnh Văn T-Công ty TNHH DS"
- Căn cứ chính? Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! Số: 520/2021/QĐ-PT! |
QUYẾT!ĐỊNH!!
GIẢI!QUYẾT!VIỆC!KHÁNG!CÁO!ĐỐI!VỚI!!
QUYẾT!ĐỊNH!TẠM!ĐÌNH!CHỈ!GIẢI!QUYẾT!VỤ!ÁN!!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Với!Hội!đồng!phúc!thẩm!gồm!có:!
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"họp:
Bà Doãn Thị Kim Thúy.!
Các"Thẩm"phán:
Bà Lê Thị Hoàng Hoa.
Bà Phan Thị Út.
Thư!ký!phiên!họp: Bà Đào Thị Lành - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại!diện! Viện! kiểm!sát! nhân! dân! Thành! phố!Hồ! Chí! Minh! tham!gia! phiên!họp: Ông Trần Hồng Long - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và 28 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên họp công khai vụ án lao động phúc thẩm thụ lý số 17/TLPT-LĐ ngày 19 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp về tiền lương, trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”, để xét Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 01/2021/QĐST-LĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh bị nguyên đơn là ông Huỳnh Văn T kháng cáo.
Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào các Điều 214, 215, 219 và 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự, để tạm đình chỉ giải quyết vụ án lao động sơ thẩm thụ lý số 02/2020/TLST-LĐ, ngày 01 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp về tiền lương, trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”, giữa:
Nguyên"đơn:"Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1981.
Địa chỉ: 269/12C/17 đường B, Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh."
Bị"đơn: Công ty TNHH DS.
Trụ sở: Đường số B, Khu công nghiệp Đ, huyện T, tỉnh N.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn:
Bà Cù Thị Bích P, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh N.
(Là người đại diện theo ủy quyền – Văn bản ủy quyền ngày 02/11/2020)
Tại đơn kháng cáo ngày 16 tháng 3 năm 2021, nguyên đơn là ông Huỳnh Văn T kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ của Tòa án nhân dân Quận S và đưa vụ án ra xét xử, với lý do: Tòa án nhân dân Quận S đã tạm đình chỉ vụ án để thu thập chứng cứ tại Bảo hiểm xã hội huyện T; Phòng Lao động, Thương binh và Xã Hội huyện T, tỉnh N là không cần thiết vì trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân Quận S, bị đơn đã xác nhận và đồng ý thanh toán lương tháng 8/2019 cho nguyên đơn theo đúng mức lương của Hợp đồng lao động mà nguyên đơn trình bày tại đơn khởi kiện; Bị đơn cũng đã xác nhận việc chưa đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); Nguyên đơn cũng đã có đơn thay đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện liên quan nội dung này.
XÉT!THẤY:!
[1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận. [2]. Xét, đơn kháng cáo của ông T yêu cầu hủy Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 01/2021/QĐST-LĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Ngày 01/02/2021, Tòa án nhân dân Quận S đã mở phiên tòa xét xử vụ án, tại phiên toà do xét thấy cần phải xác minh, thu thập hợp đồng lao động giữa ông T và Công ty TNHH DS và quá trình đóng BHXH, BHYT của ông T khi còn làm việc tại Công ty TNHH DS nên đã căn cứ vào các Điều 235 và điểm c khoản 1 Điều 259 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tạm ngừng phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án để thu thập chứng cứ. Cùng ngày 01/02/2021, Tòa án nhân dân Quận S đã có văn bản xác minh tại Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh N (Công văn số 86/TAQ6) và tại Bảo hiểm Xã hội huyện T, tỉnh N (Công văn số 87/TAQ6) xác minh về việc: Công ty TNHH DS có báo tăng lao động đối với ông T, có nộp bản lưu hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH DS với ông T, Công ty TNHH DS thực hiện việc đóng BHXH, BHYT, BHTN cho ông T; mức lương căn cứ để đóng BHXH, BHYT, BHTN cho ông T như thế nào. Tại phiên Toà sơ thẩm nguyên đơn xác định có ký hợp đồng lao động với bị đơn, tuy nhiên phía bị đơn cho rằng giữa các bên chưa ký hợp đồng lao động, đồng thời bị đơn cũng “không nắm chính xác” đã đóng bảo hiểm cho ông T hay chưa, xét thấy nguyên đơn yêu cầu khởi kiện về tiền lương, các khoản tiền bồi thường và tiền về BHXH, BHYT, BHTN, để có cơ sở giải quyết vụ án cấp sơ thẩm đã tạm ngừng phiên toà để thu thập các chứng cứ liên quan như hợp đồng lao động và quá trình đóng bảo hiểm là hoàn toàn có căn cứ. Cùng ngày 01/02/2021 đã có Công văn số 86/TAQ6 gửi Phòng Lao động, Thương binh và Xã huyện huyện T, tỉnh N; Công văn số 87/TAQ6 gửi Bảo hiểm xã hội huyện T, tỉnh N yêu cầu cung cấp thông tin xác minh là đúng quy định điểm c khoản 1 Điều 259 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì “… Thời hạn tạm ngừng phiên tòa là không quá 01 tháng, kể từ ngày Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời hạn này, nếu lý do để ngừng phiên tòa không còn thì Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên tòa; nếu lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự...”. Ngày 01/2/2021, Tòa án nhân dân Quận S ra Quyết định tạm ngừng phiên tòa nên hạn chót để tạm ngừng phiên tòa được tính đến ngày 02/3/2021. Do đến ngày 02/3/2021, Tòa án nhân dân Quận S vẫn chưa nhận được phúc đáp từ phía cơ quan, tổ chức được yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ là Bảo hiểm xã hội huyện T, tỉnh N và Phòng Lao động, Thương binh và Xã huyện huyện T, tỉnh N, nên Tòa án nhân dân Quận S căn cứ vào các Điều 214, 215, 219 và 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 01/2021/QĐST-LĐ ngày 02/3/2021 là đúng quy định pháp luật về tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham dự phiên họp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng phúc thẩm và thư ký kể từ khi thụ lý cho đến trước phiên họp được mở đã thực hiện đúng các quy định của Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, giữ nguyên quyết định tạm đình chỉ. Về án phí lao động phúc thẩm nguyên đơn không phải chịu.
Từ những nhận định trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy yêu cầu kháng cáo của ông T là không có cơ sở chấp nhận, việc ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 01/2021/QĐST-LĐ ngày 02/3/2021 của Tòa án nhân dân Quận S là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; cần giữ nguyên quyết định của cấp sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp.
Án phí lao động phúc thẩm: Nguyên đơn không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T.!
2. Giữ nguyên Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 01/2021/QĐST-LĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.!! Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết theo trình tự, thủ tục chung.! 3. Án phí lao động phúc thẩm: Nguyên đơn không phải chịu. 4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.! Nơi!nhận:!
TM.!HỘI!ĐỒNG!PHÚC!THẨM!
- Tòa án nhân dân tối cao;
THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!HỌP!
- Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
!
- VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
!
- Chi cục THA Quận S;
!
- Tòa án nhân dân Quận S (kèm Hs)
!
- Các đương sự (để thi hành);
!
- Lưu: Vp, Hồ sơ vụ án.
Doãn!Thị!Kim!Thúy! !
!