- Tranh chấp gì? "Quyết định đưa Chu E vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Chu E; Sinh ngày: 08/9/1968.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 20/2017/QĐ-TA | TP. Lạng Sơn, ngày 10 tháng 11 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Duy
2. Thư ký phiên họp: Bà Lành Thị Thanh Nụ
Ngày 10 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 19/QĐ-TA ngày 02 tháng 11 năm 2017 đối với:
Họ và tên: Chu E; tên gọi khác: Không; sinh ngày 08/9/1968. Giới tính: Nam.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 15/8, đường B, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 03/12; nghề nghiệp: Không; tiền án: Không; tiền sự: Không; con ông: Chu Văn C (đã chết) và bà Lăng Thị S (đã chết).
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Ông Nguyễn Duy Phúc - Cán bộ phòng lao động - thương binh và xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (Theo quyết định ủy quyền số 350/QĐ-LĐTB&XH, ngày 08/11/2017 của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Bà Nông Thị Nga - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Người bị đề nghị Chu E, có hộ khẩu thường trú tại số 15/8, đường B, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn là đối tượng nghiện chất ma túy, đã được áp dụng biện pháp cai nghiện tự nguyện tại gia đình và áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 09/10/2017 Công an phường T, thành phố L đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Chu E và kiểm tra xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Chu E, kết quả dương tính (+). Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/9/2017 Chu E đã khai nhận bản thân sử dụng trái phép chất ma túy từ giữa năm 2000 đến nay. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 09/10/2017 xác định Chu E nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroine.
Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn trình bày ý kiến: Người bị đề nghị Chu E, sinh năm 1968. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 15/8, đường B, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2000, loại ma túy thường sử dụng là Heroine, hàng ngày Chu E vẫn sử dụng trái phép chất ma túy. Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính nên Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Lạng Sơn đề nghị đưa Chu E vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 16 tháng.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu E là đầy đủ, đảm bảo đúng quy định, trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp được thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật. Trong quá trình lập hồ sơ, người bị đề nghị đã nhận ra lỗi lầm của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Xét tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và nhân thân đề nghị đưa Chu E vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 16 tháng là phù hợp.
XÉT THẤY
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu E được thực hiện như sau:
Đối với các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị thể hiện đã có bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 09/10/2017; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy của người bị đề nghị và phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng người nghiện chất ma túy ngày 09/10/2017, xác định Chu E nghiện ma túy, loại ma túy thường sử dụng là Heroine; biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 09/10/2017; người bị đề nghị đã có bản tường trình và cơ quan chức năng cũng đã lấy lời khai của người bị đề nghị; các tài liệu xác định người nghiện ma túy đã được áp dụng biện pháp cai nghiện tự nguyện tại gia đình và áp dụng biện pháp giáo dục tại UBND xã, phường, thị trấn nhưng vẫn sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 10/10/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L ban hành quyết định số 23/QĐ-UBND giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thông báo cho người bị đề nghị biết theo quy định. Ngày 02/11/2017 Phòng Lao động – Thương binh và xã hội có văn bản đề nghị số 343/LĐTBXH đề nghị xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Chu E tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Lạng Sơn. Như vậy hồ sơ đã đảm bảo các tài liệu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Đối chiếu với quy định trên, tính từ ngày 09/10/2017 thì thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính vẫn đảm bảo theo quy định.
Về đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là nam giới, sinh năm 1968, có đủ năng lực trách nhiệm hành chính nên đủ điều kiện áp dụng biện pháp theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị: Theo xác minh đối tượng Chu E, sinh năm 1968. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 15/8, đường B, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, có hành vi vi phạm hành chính trên địa bàn phường T, thành phố L nên việc lập hồ sơ đề nghị thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND phường T, thành phố L và Công an phường T, thành phố L có trách nhiệm thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị. Do vậy thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị đã được thực hiện đúng theo quy định tại điểm a, c khoản 1, 3 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ. Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu E là đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, hành vi vi phạm của Chu E gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Lạng Sơn.
Xét về nhân thân: Bản thân Chu E là người đã trưởng thành, nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện và nghiện ma túy từ năm 2000, là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý hành chính nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi vi phạm đó cần phải xử lý nghiêm minh, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị trong một thời gian nhất định để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề như vậy mới có tính răn đe, giáo dục Chu E trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị là Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Lạng Sơn đề nghị đưa Chu E vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 16 tháng là phù hợp nên được chấp nhận.
Vi các lẽ trên;
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
Áp dụng Điều 4; Điều 8; Điều 15 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Áp dụng Điều 16; 17; 19; 22; 23; 24; 30; 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Chu E; Sinh ngày: 08/9/1968.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 15/8, đường B, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, địa chỉ: Km 10, xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Lạng Sơn và Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Công an thành phố Lạng Sơn; - VKSND thành phố Lạng Sơn; - Phòng LĐ-TB &XH thành phố Lạng Sơn; - UBND phường T; - Người bị áp dụng; -…………………. - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (đã ký) Hoàng Văn Duy |