- Tranh chấp gì? "Xử lý HC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do
- Căn cứ chính? Điều 108 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 105/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 199/QĐ - TA | Gò Vấp, ngày 21 tháng 3 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Lê Thị Thành Huế
2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Quỳnh Anh.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu Trung tâm là tại Trụ sở Toà án nhân
dân quận G, TP. H và điểm cầu thành phần là tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 3 Thành phố H (Số 65 đường B, Phường M, quận B, Thành phố H), Toà án nhân dân quận G tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 178/QĐ-TA ngày 17 tháng 3 năm 2025, đối với:
Ông Hoàng Ngọc L, giới tính: nam;
Sinh ngày 02 tháng 9 năm 1970;
Căn cước công dân số: 07XXXXXXXXXX, ngày cấp 29/05/2021; nơi cấp:
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Thiên Chúa;
Trình độ học vấn: 1/12;
Nguyên quán: Thừa Thiên Huế;
Hộ khẩu thường trú: Số 2 đường N, phường N, Quận M, TP. H.
Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định;
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Tiền án, tiền sự: Ngày 18/9/1987 Toà án nhân dân Thành phố H xử phạt 36
tháng tù về tội “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân” (Bản án số 0303/HSST); Ngày 08/9/1989 Toà án nhân dân Thành phố H xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân” (Bản án số 0455/HSST); Ngày 14/4/1994 Toà án nhân dân Thành phố H xử phạt 48 tháng tù về tội “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân” (Bản án số 0332/HSST); Ngày 05/11/1999 Toà án nhân dân Thành phố H xử phạt 8 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (Bản án số 2728/HSST); Tiền sự: Năm 2022 cai nghiện bắt buộc tại trại cai nghiện Đức Hạnh).
Con ông Hoàng Xuân Tvà bà Nguyễn Thị Minh T.
(Có đơn xin vắng mặt).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G: Bà Lê Thị Thu Phượng – Kiểm
sát viên.
2. Đại diện Công an Phường M, quận G: Ông Lê Hải Đăng – Cán bộ Công
an Phường M, quận G (Giấy ủy quyền ngày 21/3/2025).
NHẬN THẤY:
Ngày 03/01/2025 Tổ tuần tra Công an Phường M, quận G phát hiện ông
Hoàng Ngọc L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên mời về trụ sở để làm việc. Tại Công an Phường M, quận G, ông Hoàng Ngọc L qua bản tường trình đã xác nhận có sử dụng ma túy.
Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 04/01/2025 của Trạm y tế Phường
M, quận G thể hiện ông Hoàng Ngọc L dương tính với ma túy, loại MET. Do ông Hoàng Ngọc L không có nơi cư trú ổn định, không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên Công an Phường M, quận G và Ủy ban nhân dân Phường 1, quận G đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Hoàng Ngọc L.
Ngày 04/3/2025 , Công an Phường M, quận G có văn bản đề nghị số 02/ĐN-
CNBB về việc xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Hoàng Ngọc L.
Đại diện Công an Phường M, quận G tham gia phiên họp theo quy định tại
khoản 3 Điều 16 của Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-VCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025.
Tại phiên họp:
Đại diện Công an Phường M quận G có ý kiến: Do ông Hoàng Ngọc L nghiện
ma túy và không có nơi cư trú ổn định nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ theo đúng trình tự thủ tục, qui định của pháp luật. Nay đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy đối với ông Hoàng Ngọc L, thời hạn là 21 đến 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G xác định việc tuân theo pháp luật
về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Hoàng Ngọc L được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên họp Thẩm phán đã đảm bảo đúng trình tự mở phiên họp, đảm bảo quyền tranh tụng của các bên trong việc, xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đề nghị Tòa án nhân dân quận G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Hoàng Ngọc L theo đề nghị của Công an Phường M, quận G.
XÉT THẤY:
Tòa án nhân dân quận G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Công an Phường M, quận G là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
Ngày 03/01/2025, Công an Phường M quận G phát hiện ông Hoàng Ngọc L
đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên đã lập biên bản vi phạm hành chính, Tòa án mở phiên họp ngày 21/3/2025 là còn thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính, biên bản xét nghiệm chất ma túy của
Công an Phường M, quận G, Thành phố H, kết quả xét nghiệm chất ma túy của Trạm y tế Phường M, quận G, kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy Bình Triệu; bản tường trình ngày 03/01/2025 do ông Hoàng Ngọc L, thể hiện ông Hoàng Ngọc L nghiện ma túy, loại Methamphetamin (MET).
Căn cứ kết quả xác minh tình trạng cư trú của Công an Phường N, Quận M,
Thành phố H thể hiện ông Hoàng Ngọc L có đăng ký thường trú tại số 245/83/13 đường Nguyễn Trãi, Phường N, Quận M, Thành phố H nhưng không thực tế cư trú tại đây, Công an Phường N, Quận M đã xác minh đối tượng và được Công an Phường M, quận G trả lời đối tượng có đăng ký tạm trú tại địa chỉ số 71 đường số C, Phường M, quận G, Thành phố H vào ngày 22/7/2024.
Căn cứ kết quả xác minh tình trạng cư trú của Công an Phường M, quận G,
Thành phố H thể hiện ông Hoàng Ngọc L không thực tế cư trú tại đây, không thực hiện khai báo đăng ký tạm trú, cư trú.
Căn cứ kết quả xác minh tình trạng cư trú của Công an Phường M, quận G,
Thành phố H thể hiện ông Hoàng Ngọc L không thực tế cư trú ổn định tại địa chỉ 80, Đường số T, Phường M, quận G, Thành phố H, không thực hiện khai báo đăng ký tạm trú, cư trú.
Căn cứ vào bản tóm tắt lý lịch có xác nhận của Công an Phường M, quận G
và trích lục tiền án, tiền sự của Phòng hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát, Công an Thành phố H, ông Hoàng Ngọc L: Tiền án, tiền sự: Ngày 18/9/1987 Toà án nhân dân Thành phố H xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân” (Bản án số 0303/HSST); Ngày 08/9/1989 Toà án nhân dân Thành phố H xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân” (Bản án số 0455/HSST); Ngày 14/4/1994 Toà án nhân dân Thành phố H xử phạt 48 tháng tù về tội “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân” (Bản án số 0332/HSST); Ngày 05/11/1999 Toà án nhân dân Thành phố H xử phạt 8 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (Bản án số 2728/HSST); Tiền sự: Năm 2022 cai nghiện bắt buộc tại trại cai nghiện Đức Hạnh).
Từ những căn cứ nêu trên đã có đủ cơ sở xác định: Ông Hoàng Ngọc L là
người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên không đăng ký, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung theo khoản 49 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020.
Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc đối với ông Hoàng Ngọc L được Công an Phường M, quận G; Ủy ban nhân dân Phường M, quận G lập đúng và đầy đủ theo trình tự thủ tục do pháp luật qui định.
Xét thấy, ông Hoàng Ngọc L xác định là nghiện ma túy, loại
Methamphetamin (MET) nên cần phải có một thời gian cai nghiện dài mới giúp ông Hoàng Ngọc L từ bỏ việc sử dụng ma túy.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 2; điểm a khoản 1 Điều 3; Điều 23; Điều 24; Điều 25; khoản 1
Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ Điều 3; Điều 6; Điều 9; Điều 10; Điều 95; Điều 96; khoản 2 Điều
105; Điều 106; Điều 107; khoản 2, khoản 3 Điều 108 và điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020);
Căn cứ khoản 12 Điều 2; Điều 5 và khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống
ma túy năm 2021;
Căn cứ Nghị định số 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy;
Căn cứ Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
Căn cứ Điều 7 Nghị định số 120/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế
độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do
Bộ Công an thành lập đối với ông Hoàng Ngọc L tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B thành phố H tại Ấp Bố L, xã P, thị xã T, tỉnh B.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng (Hai mươi
bốn tháng) kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc,
cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
3. Ông Hoàng Ngọc L có quyền khiếu nại, Công an Phường M, quận G,
Thành phố H có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân quận G Thành phố H có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy số B thành phố H
tại Ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh B.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Công an Phường M, quận G; - Viện kiểm sát nhân dân quận G; - Chủ tịch UBND P.11, quận G; - Cơ sở cai nghiện ma túy số B thành phố H tại ấp B; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đã ký Lê Thị Thành Huế |