vanban.org

Quyết định 197/2023/QĐ-PT

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 22/06/2023 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị T; giữ nguyên Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 03/2023/QĐST-HC ngày 04/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

Bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hành chính phúc thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA-2021/00000 44 ngày 19/4/2023 của Cục … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Người khởi kiện: Bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn Đ. Địa chỉ: Số 04 đường N, tổ dân phố 3, thị trấn P, huyện N1, tỉnh Kon Tum"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị T; giữ nguyên Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 03/2023/QĐST-HC ngày 04/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 197/2023/QĐ-PTĐà Nẵng, ngày 22 tháng 6 năm 2023.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Trương Minh Tuấn

- Các Thẩm phán:

Ông Vũ Thanh Liêm

Ông Đinh Phước Hòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Lê Văn Thành - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 03/2023/QĐST-HC ngày 04/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đã căn cứ vào: Điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144, điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số: 14/2022/TLST-HC về “Khiếu kiện quyết đ nh hành chính”, giữa:

- Người khởi kiện: Bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn Đ, có mặt.

Địa chỉ: Số 04 đường N, tổ dân phố 3, thị trấn P, huyện N1, tỉnh Kon Tum

- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum.

Địa chỉ: Số 492 đường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trương Đ1, chức vụ: Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kon Tum.

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N1, tỉnh Kon Tum; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn V - chức vụ Phó Chủ tịch.

Địa chỉ: Thôn 6, thị trấn P, huyện N1, tỉnh Kon Tum.

+ UBND thị trấn P, huyện N1, tỉnh Kon Tum. Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Sỹ H - Chủ tịch UBND thị trấn P.

+ Bà Vũ Thị C1

+ Ông Nguyễn Xuân T1

+ Ông Đinh Hữu Ph

Cùng trú tại: Tổ dân phố 3, thị trấn P, huyện N1, tỉnh Kon Tum.

+ Ông Lê Quốc A

Địa chỉ: Số 808 đường H2, Thị trấn P, huyện N1, tỉnh Kon Tum.

Tại đơn kháng cáo ngày 08 tháng 4 năm 2023 (BL 211) của ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị T (nộp trực tiếp tại Tòa án sơ thẩm ngày 10/4/2023), có nội dung: Yêu cầu Tòa án phúc thẩm hủy quyết định đình chỉ hành chính sơ thẩm.

XÉT THẤY:

Bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn Đ khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu: Hủy Quyết định hành chính số Quyết định số 334/QĐ-GQTC ngày 25/7/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum (gọi tắt là: Quyết định số 334/QĐ-GQTC) và Quyết định số 32/QĐ-CTUBND ngày 30/3/2012 của Chủ tịch UBND huyện N1 (gọi tắt là: Quyết định số 32/QĐ-CTUBND). Quyết định số 32/QĐ-CTUBND ngày 30/03/2012 của Chủ tịch UBND huyện N1 “V/v giải quyết tranh chấp đất nông nghiệp giữa bà Vũ Th C1 và bà Trần Th T”, có nội dung: Công nhận nội dung đơn khiếu nại tranh chấp đất nông nghiệp của bà Vũ Thị C1 với bà Trần Thị T, Yêu cầu bà Trần Thị T tự giác trả lại diện tích đất nông nghiệp bà tự ý phát dọn, lấn chiếm cho các hộ dân là Vũ Thị C1, Nguyễn Xuân T1, Đinh Hữu Ph, Lê Quốc A, Trong thời hạn 45 kể từ ngày nhận được quyết định này, bà Vũ Thị C1, bà Trần Thị T có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum hoặc trong thời hạn 01 năm có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân huyện N1 để được xem xét giải quyết. Không đồng ý với Quyết định số 32/QĐ-CTUBND, bà Trần Thị T khiếu nại lên Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum, yêu cầu hủy Quyết định số 32/QĐ-CTUBND; ngày 25/7/2012, Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum ban hành Quyết định số 334/QĐ-GQTC “V/v giải quyết tranh chấp đất nông nghiệp giữa bà C1 và bà T, Nguyễn Xuân T1; Đinh Hữu Ph; Lê Quốc A”,có nội dung: Không công nhận việc khiếu kiện, tranh chấp về quyền sử dụng đất của bà Trần Thị T với các hộ dân: Vũ Thị C1, Nguyễn Xuân T1, Đinh Hữu Ph, Lê Quốc A, Giữ nguyên nội dung giải quyết tranh chấp đất đai tại Quyết định số 32/QĐ-CTUBND ngày 30/3/2012 của Chủ tịch UBND huyện N1, Trong trường hợp không đồng ý với nội dung giải quyết tại Quyết định này, bà Trần Thị T có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Sau khi nhận được Quyết định số 334/QĐ-GQTC, bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn Đ tiếp tục có đơn khiếu nại, tố cáo đến nhiều cơ quan khác nhau. Tại phiên họp (ngày 22/6/2023) bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn Đ xác nhận Ông Bà nhận được Thông báo số: 40 /TB-UBND ngày 02/3/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum (BL158) là Thông báo cuối cùng về kết quả kiểm tra, rà soát giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị T trên địa bàn huyện N1 vào ngày 12/3/2021.

Ngày 30/3/2022 bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn Đ có đơn khởi kiện vụ án hành chính đề nghị hủy Quyết định số 334/QĐ-GQKN ngày 25/7/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum. Ngày 26/7/2022 ông Đường, bà T làm đơn xin rút đơn khởi kiện. Ngày 27/7/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đã ra Quyết định số 05/2022/QĐST-HC Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính (BL08).

Ngày 06/11/2022, ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị T tiếp tục làm đơn khởi kiện vụ án hành chính đề nghị hủy các Quyết định hành chính số 334/QĐ-GQTC ngày 25/7/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum và Quyết định số 32/QĐ-CTUBND ngày 30/3/2012 của Chủ tịch UBND huyện N1 là quá thời hạn 01 năm kể từ ngày biết được quyết định hành chính, mà không phải vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; dẫn đến thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính đã hết theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.Tòa án sơ thẩm quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là có căn cứ và đúng pháp luật, ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị T kháng cáo nhưng tại cấp phúc thẩm Ông Bà không cung cấp thêm được chứng cứ nào mới khác; do đó không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T và ông Nguyễn Ngọc Đ; giữ nguyên Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 03/2023/QĐST-HC ngày 04/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

Tại phiên họp, kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T và ông Nguyễn Ngọc Đ giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án sơ thẩm, đề nghị của kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị T; giữ nguyên Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 03/2023/QĐST-HC ngày 04/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

2. Bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hành chính phúc thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA-2021/00000 44 ngày 19/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum. Bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn Đ đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ