vanban.org

Quyết định 197/2021/QĐ-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 14/05/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Chảo Tả T (tên gọi khác là Chảo Tả T1, Chảo Tả C1).

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 06/2020/QĐST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Chảo Tả T (tên gọi khác là Chảo Tả T1, Chảo Tả C1). Trả lại ông Chảo Tả T (tên gọi khác là Ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "“Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Chảo Tả T (tên gọi khác là Chảo Tả T1, Chảo Tả C1).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 197/2021/QĐ-PTHà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Minh Tuấn;

Các Thẩm phán:

Ông Thái Duy Nhiệm;

Bà Vũ Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Nhật Phương - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Thúy - Kiểm sát viên cao cấp.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 06/2020/QĐST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2020, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đã căn cứ vào các điều 217, 218, 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:

- Nguyên đơn:

1. Anh Chảo Tả C sinh năm 1984;

2. Anh Chảo Tả V sinh năm 1984;

3. Anh Chảo Tả P sinh năm 1971;

Người đại diện theo ủy quyền của anh Chảo Tả V, anh Chảo Tả P: Anh Chảo Tả C;

Cùng cư trú tại: Thôn BK, xã TB, thị xã SP, tỉnh Lào Cai.

- Bị đơn: Ông Chảo Tả T (tên gọi khác là Chảo Tả T1, Chảo Tả C1) sinh năm 1960; cư trú tại: Thôn BK, xã TB, thị xã SP, , tỉnh Lào Cai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Phàn Mùi P sinh năm 1955;

2. Chị Chảo Mùi N sinh năm 1998;

3. Chị Chảo Mùi P1 sinh năm 1993;

Cùng cư trú tại: Thôn BK, xã TB, thị xã SP, tỉnh Lào Cai.

4. Ủy ban nhân dân thị xã SP, tỉnh Lào Cai;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vương Trinh Q - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã SP.

Địa chỉ: Số 091 Phố XV, phường SP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai.

Ngày 09/11/2020, bị đơn là ông Chảo Tả T (tên gọi khác là Chảo Tả T1, Chảo Tả C1) có đơn kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên.

XÉT THẤY:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/7/2020, các anh Chảo Tả C, Chảo Tả V, Chảo Tả P yêu cầu ông Chảo Tả T (tên gọi khác là Chảo Tả T1, Chảo Tả C1) trả lại diện tích 800m2 đất tại thôn BK, xã TB, thị xã SP, tỉnh Lào Cai là một phần diện tích đất nằm trong diện tích đất mà gia đình các anh đã được Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện SP (nay là thị xã SP) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCNQDĐ số AC 862968 ngày 14/7/2005 (sau đây viết tắt là GCNQDĐ số AC 862968 ngày 14/7/2005).

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 16/9/2020, ông T có văn bản đề nghị hủy GCNQDĐ số AC 862968 ngày 14/7/2005.

Ngày 23/10/2020, đồng nguyên đơn là các anh C, V, P có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

Theo quy định tại các khoản 1, 2 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì “1) Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. 2) Quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó.”. Như vậy, khi giải quyết vụ việc dân sự mà có quyết định cá biệt liên quan đến vụ việc dân sự thì phải được Tòa án xem xét trong cùng vụ việc dân sự và Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt này nếu quyết định cá biệt này trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự.

Do đó, khi giải quyết yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về tranh chấp quyền sử dụng đất thì Tòa án phải xem xét quyết định cá biệt liên quan đến quyền sử dụng đất có tranh chấp là GCNQDĐ số AC 862968 ngày 14/7/2005 và các quyết định cá biệt khác có liên quan (nếu có). Tuy nhiên, các nguyên đơn đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn là ông T không có phản tố liên quan đến quyền sử dụng đất đã được cấp GCNQDĐ số AC 862968 ngày 14/7/2005 nên Tòa án phải đình chỉ giải quyết tranh chấp về dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất đã được cấp GCNQDĐ số AC 862968 ngày 14/7/2005. Do vậy, Tòa án không có thẩm quyền xem xét, giải quyết đối với GCNQDĐ số AC 862968 ngày 14/7/2005 trong vụ án dân sự, trong trường hợp đương sự có yêu cầu xem xét, giải quyết đối với GCNQDĐ số AC 862968 ngày 14/7/2005 thì sẽ được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự với lý do nguyên đơn đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện là đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông T, cần giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội là không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên quyết định sơ thẩm, là có cơ sở nên được chấp nhận.

Do ông T (tên gọi khác là T1, C1)là người cao tuổi (ông T sinh năm 1960), nên ông T không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Chảo Tả T (tên gọi khác là Chảo Tả T1, Chảo Tả C1).

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 06/2020/QĐST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Chảo Tả T (tên gọi khác là Chảo Tả T1, Chảo Tả C1). Trả lại ông Chảo Tả T (tên gọi khác là Chảo Tả T1, Chảo Tả C1) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AC/2012/0001597 ngày 24/11/2020.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ