vanban.org

Quyết định 195/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 27/11/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Tuyên bố một người là

đã chết” của anh Trần Quốc B. Tuyên bố: Ông Trần Quốc Đ, sinh năm: 1942; nơi cư trú cuối cùng: số nhà 27, đường Phan Chu T, phường Hải C, thành phố Quy, tỉnh Bình Định là đã chết, thời điểm chết là ngày 02/11/1991. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Tuyên bố một người là
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:195/2020/QĐST-VDSQuy Nhơn, ngày 27 tháng 11 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Thư ký phiên họp: Ông Thân Trọng Hiền – Thư ký TAND Tp.Quy Nhơn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên họp:

Ông Trần An Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 29/2020/TLST- VDS ngày 09 tháng 3 năm 2020 về việc: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 180/2020/QĐST-VDS ngày 19 tháng 11 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Anh Trần Quốc B- sinh năm 1977

Địa chỉ: số 3 Đường 27, P 6, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Ngô Thị Kim X- SN: 1945

2. Anh Trần Quốc H- SN: 1970

3. Chị Trần Thị Hương T- SN: 1985

Cùng địa chỉ:Tổ 41(nay là 42), Khu phố 4, phường T Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

4. Chị Trần Thị Kim P- SN: 1971

Địa chỉ: 948 Holly Hedge Rd, Stone Moutain, GA 30083, Atlanta, USA.

Trần Quốc B là đại diện của bà X, anh H, chị T, chị P.

Địa chỉ: số 1 Đường 2, Phường 6, quận Gò V TP Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 29/11/2019 và tại tòa, anh Trần Quốc B trình bày:

Cha anh tên là Trần Quốc Đ, sinh năm: 1942, nơi cư trú cuối cùng tại: số nhà 27, đường Phan Chu T, phường Hải C, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Mẹ anh là Ngô Thị Kim X. Cha và mẹ anh có bốn người con là Trần Quốc H, Trần Thị Kim P, Trần Thị Hương T và anh là Trần Quốc B. Ông nội là Trần D(chết), bà nội là Phạm Thị D(chết).

Ông Trần Quốc Đ là máy trưởng tàu Long Biên 01, thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa bằng đường biển từ cảng Sài Gòn đi Sigapore, ngày 01/11/1989 tàu Long Biên 01 đang ở vùng biển vịnh Thái Lan thì gặp cơn bão đột ngột và phát triển thành trận cuồng phong. Hậu quả là toàn bộ công nhân viên và tàu Long Biên 01 bị cơn bão nhấn chìm, mất tích tại tọa độ 070 50’(vĩ bắc)- 1030 50’(kinh đông), cách đảo Hòn Khoai về phía Tây nam 70-74 hải lý. Cơ quan chủ quản đã kết hợp cơ quan chức năng trong nước và quốc tế nổ lực tìm kiếm, cứu nạn nhưng vẫn không tìm thấy. Năm 1991 Công ty Vận tải Ngoại thương tỉnh Đồng Nai có văn bản đề nghị cấp có thẩm quyền xét ông Trần Quốc Đ là liệt sĩ nhưng không được. Từ đó đến nay, gia đình đã tìm kiếm, nhưng vẫn không có tin tức xác thực là ông Đ còn sống. Nay yêu cầu tòa tuyên bố ông Trần Quốc Đ là đã chết, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Anh Trần Quốc B là đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Thị Kim X, anh Trần Quốc H, chị Trần Thị Kim P và Trần Thị Hương T thống nhất lời khai nêu trên không bổ sung gì thêm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật, thụ lý giải quyết theo đúng thẩm quyền, tuân thủ đầy đủ các quy định về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự.

Sự kiện tàu Long Biên 01 bị thiên tai ngày 01/11/1989 tại tọa độ 070 50’(vĩ bắc)- 1030 50’(kinh đông) thuộc vùng biền vịnh Thái Lan. Hậu quả là toàn bộ công nhân viên trên tàu trong đó có ông Trần Quốc Đ bị nhấn chìm, mất tích; sự kiện được cơ quan chủ quản của tàu và Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai xác nhận. Đến nay gia đình cũng không có tin tức xác thực là ông Đ còn sống. Cho nên, anh Trần Quốc B yêu cầu tuyên bố ông Trần Quốc Đ là đã chết là có căn cứ pháp luật nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Anh Trần Quốc B là con của ông Trần Quốc Đ, nên có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn Đ là đã chết quy định tại Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ông Trần Quốc Đ có nơi cư trú cuối cùng tại: số nhà 27, đường Phan Chu T, phường Hải Cảng, thành phố Quy N, nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung yêu cầu:

Sự kiện tàu Long Biên 01 bị thiên tai ngày 01/11/1989 tại tọa độ 070 50’(vĩ bắc)- 1030 50’(kinh đông) thuộc vùng biển vịnh Thái Lan. Hậu quả là công nhân viên trên tàu trong đó có ông Trần Quốc Đ bị nhấn chìm, mất tích. Đến nay, gia đình cũng không có tin tức xác thực là ông Đ còn sống.

Sau khi thụ lý, người yêu cầu đã thực hiện công bố thông báo tìm kiến người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết theo Quyết định số 29/2020/QĐ-TA ngày 19 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Quy. Đã hết thời hạn 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên cũng không có tin tức gì của ông Đ.

Vì vậy, anh Trần Quốc B yêu cầu tuyên bố ông Trần Quốc Đ, sinh năm 1942, là đã chết là có căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự nên chấp nhận.

Về xác định thời điểm chết: Ngày có tin tức cuối cùng về ông Trần Quốc Đ là ngày 01 tháng 11 năm 1989, ngày ông Điện chết là ngày 02 tháng 11 năm 1991.

. Về lệ phí: Anh Trần Quốc B chịu theo quy định pháp luật.

. Về chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết: anh Trần Quốc B đã nộp và chịu theo quy định pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn là phù hợp với nhận định và có căn cứ pháp luật, nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 4 Điều 27, các Điều 369, 370, 391, 392, 393 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 71, 72 của Bộ luật Dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Tuyên bố một người là

đã chết” của anh Trần Quốc B.

Tuyên bố: Ông Trần Quốc Đ, sinh năm: 1942; nơi cư trú cuối cùng: số nhà 27, đường Phan Chu T, phường Hải C, thành phố Quy, tỉnh Bình Định là đã chết, thời điểm chết là ngày 02/11/1991.

Khi quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Trần Văn Đ được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của ông Trần Văn Đ được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Trần Văn Đ được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: anh Trần Quốc B phải nộp 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại biên lai thu số:0007670 ngày 05/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.

3. Về chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết: anh Trần Quốc B đã nộp đủ và chịu theo quy định pháp luật.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định

Cỡ chữ