- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản giữa Bà Đặng Thị D, sinh năm 1995-Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng L Phát. giữa ông Nguyễn Thành L, b…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 -Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng L Phát đối với ông Nguyễn Thành L, bà Bùi Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8-VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 193/2025/DS-ST Ngày: 28/9/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8-VĨNH LONG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi.
Các Hoäi thaåm nhaân daân:
1. Ông Võ Minh Quang.
2. Bà Đào Thị Tuyết Mai.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8-Vĩnh Long.
Trong ngày 28 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 8-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số: 54/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2025; Quyết địnhhoãnphiên tòa số: 82/2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 9năm 2025,giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Đặng Thị D, sinh năm 1995-Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng L Phát.
Địa chỉ: Tổ 6, ấp 4 Cây Trôm, xã Bình Đại, tỉnh Vĩnh Long.
Bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng L Phát ủy quyền cho bà Phan Kỳ D, sinh năm 2001, địa chỉ: Số 74/2, ấp AH B, xã An Qui, tỉnh Vĩnh Long (Bà Phan Kỳ D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: 1/ Nguyễn Thành L, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
2/ Bùi Thị N, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp Phú Mỹ, xã L Thuận, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/12/2024, những lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, người được nguyên đơn bà Đặng Thị D, sinh năm 1995-Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng L Phát, bà Phan Kỳ D trình bày:
Bà Đặng Thị D là chủ hộ kinh doanh Hưng L Phát với ông Nguyễn Thành L, bà Bùi Thị N có thực hiện hợp đồng mua bán thức ăn tôm thẻ, chân trắng, tôm sú và cùng với thuốc, hóa chất nuôi trồng thủy sản, cụ thể bên nguyên đơn bán thức ăn nuôi tôm, hóa chất và thuốc nuôi tôm cho bị đơn Nguyễn Thành L, bà Bùi Thị N. Hai bên thỏa thuận, bên nguyên đơn giao hàng cho bị đơn tại kho hàng của hộ kinh doanh Đại lý Hưng L Phát hoặc địa điểm bên bị đơn yêu cầu, bị đơn nhận hàng và ký tên xác nhận việc nhận hàng, thời hạn thanh toán là cuối mỗi vụ thu tôm (Sau khi thu hoạch tôm). Tuy nhiên, bị đơn Nguyễn Thành L, Bùi Thị N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Theo bảng đối chiếu công nợ ngày 09/01/2023, bị đơn Nguyễn Thành L, Bùi Thị N còn nợ nguyên đơn 117.258.000 đồng (Một trăm mười bảy triệu hai trăm năm mươi tám nghìn đồng). Tuy nhiên, ông L và bà N thanh toán được một khoảng tiền, sau đó không thanh toán nữa. Số tiền bị đơn Nguyễn Thành L, Bùi Thị N còn nợ lại là 92.142.000 đồng (Chín mươi hai triệu một trăm bốn mươi hai nghìn đồng). Sau đó, nguyên đơn đã liên hệ nhiều lần yêu cầu ông L, bà N trả số tiền còn nợ nhưng ông L, bà N hứa hẹn nhiều lần nhưng không thanh toán.
Bà Phan Kỳ D yêu cầu Tòa án xét xử buộc ông Nguyễn Thành L và bà Bùi Thị N phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho nguyên đơn số tiền vốn là 92.142.000 đồng (Chín mươi hai triệu một trăm bốn mươi hai nghìn đồng). Yêu cầu tính lãi từ ngày 10/01/2023 đến ngày 28/9/2025, lãi suất 0,83%/tháng, thời gian tính lãi là 32 tháng 18 ngày. Số tiền lãi được tính như sau:
(92.142.000 đồng X 0,83%/tháng) X 32 tháng 18 ngày =24.932.000 đồng (Hai mươi bốn triệu chín trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Tổng cộng số tiền vốn và tiền lãi là: 92.142.000 đồng + 24.932.000 đồng = 117.074.000 đồng (Một trăm mười bảy triệu không trăm bảy mươi bốn nghìn đồng).
(Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp là bảng đối chiếu công nợ ngày 09/01/2023).
Trong suốt quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn Nguyễn Thành L, Bùi Thị N từ chối tham gia tố tụng, bất hợp tác với Tòa án, đồng thời cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ và ý kiến, lời khai gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Phan Kỳ D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn Nguyễn Thành L, Bùi Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt không lý do, do đó xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Trong năm 2022, bà Đặng Thị D là chủ hộ kinh doanh Hưng L Phát với bên bị đơn Nguyễn Thành L, Bùi Thị N ký kết hợp đồng mua bán tài sản, cụ thể bên nguyên đơn bán thức ăn nuôi tôm, hóa chất và thuốc nuôi tôm cho bị đơn Nguyễn Thành L, Bùi Thị N. Hai bên thỏa thuận, sau khi thu hoạch tôm xong, bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả hết các khoảng nợ cho bên nguyên đơn, tuy nhiên sau khi thu hoạch tôm xong, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bên bị đơn Nguyễn Thành L, Bùi Thị N đã thực hiện xong quyền nhận tài sản là thức ăn nuôi tôm, hóa chất và thuốc nuôi tôm nhưng đến khi thu hoạch tôm, bên bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận là vi phạm Điều 430, 440 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng đối với bị đơn nhưng ông L, bà N từ chối tham gia tố tụng, không hợp tác với tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc, đồng thời cũng không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ chứng minh đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận.
Xét yêu cầu tính tiền lãi của bên nguyên đơn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Do đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bên bị đơn Nguyễn Thành L, Bùi Thị N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, do đó nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi với mức lãi suất là 0,83%/tháng, thời gian tính lãi từ ngày bên bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 28/9/2025) với thời gian là 32 tháng 18 ngày là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Số tiền lãi được tính như sau:
(92.142.000 đồng X 0,83%/tháng) X 32 tháng 18 ngày =24.932.000 đồng (Hai mươi bốn triệu chín trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Tổng cộng số tiền vốn và tiền lãi là: 92.142.000 đồng + 24.932.000 đồng = 117.074.000 đồng (Một trăm mười bảy triệu không trăm bảy mươi bốn nghìn đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn Nguyễn Thành L, Bùi Thị N phải có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 280, 357, 430, 434, 440, 357; Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 -Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng L Phát đối với ông Nguyễn Thành L, bà Bùi Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
Buộc ông Nguyễn Thành L và bà Bùi Thị N phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng L Phát số tiền mua thức ăn, hóa chất và thuốc nuôi tôm còn thiếu là 117.074.000đồng (Một trăm mười bảy triệu không trăm bảy mươi bốn nghìn đồng), trong đó tiền vốn là 92.142.000 đồng , tiền lãi là 24.932.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch
Ông Nguyễn Thành L và bà Bùi Thị N phải có nghĩa vụ liên đới chịu 5.854.000 đồng (Năm triệu tám trăm năm mươi bốn nghìn đồng).
Hoàn trả lại cho bà Đặng Thị D, sinh năm 1995-Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng L Phát số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.682.775 đồng (Hai triệu sáu trăm tám mươi hai nghìn bảy trăm bảy mươi lăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011107 ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Nay là Phòng Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng L Phát, bị đơn Nguyễn Thành L, Bùi Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long (Phòng GĐKT,TT&THA); - VKSND khu vực 8-Vĩnh Long; - Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long; - UBND xã L Thuận; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Đăng Phi |