vanban.org

Quyết định 19/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trọng N.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mƣời hai) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đƣa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3/ Ngƣời bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đỗ Trọng N"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trọng N.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật xử lý vi phạm xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Số: 19/QĐ – TA
Thủ Dầu Một, ngày 05 tháng 5 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Lê Minh Đạo.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Hiếu.

Ngày 05 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 20/QĐ - TA ngày 24 tháng 4 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Đỗ Trọng N. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 25 tháng 3 năm 1995.

CMND số 2811xxxxx cấp ngày 27/11/2012 tại Công an tỉnh Bình Dƣơng.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 11/12

Nguyên quán: Tỉnh Bình Dƣơng.

Hộ khẩu thƣờng trú: khu phố L, phƣờng C, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng.

Chỗ ở: khu phố L, phƣờng C, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 03/9/2019, Chủ tịch UBND phƣờng C, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng ban hành Quyết định số 40/QĐ – UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng với thời hạn 03 tháng.

Con ông Đỗ Văn G và bà Nguyễn Thị N.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1/ Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Duy V – Cán bộ Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M.

2/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một: Bà Lê Thị Hoài – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trọng N do Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M chuyển đến thể hiện:

Ngày 04/3/2020, Công an phƣờng C, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện Đỗ Trọng N sử dụng trái phép chất ma tuý và lập biên bản vi phạm hành chính. Căn cứ phiếu trả lời về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 04/3/2020 của Trung tâm Y tế thành phố M thể hiện: Đỗ Trọng N có nghiện ma túy, loại Methamphetamine. Do đó, Chủ tịch UBND phƣờng C đã ban hành Quyết định về việc lập hồ sơ đề nghị đƣa Đỗ Trọng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Quyết định giao Đỗ Trọng N cho gia đình quản lý.

Ngày 04/3/2020, Công an phƣờng C đã ban hành Thông báo số 13/TB - CAP về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thông báo đã đƣợc giao cho Đỗ Trọng N.

Ngày 16/4/2020, Trƣởng Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M đã ban hành văn bản số 185/LĐ.TBXH về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trọng N.

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M phát biểu quan điểm: Đỗ Trọng N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Do Đỗ Trọng N đã thành niên, có nơi cƣ trú ổn định, từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng do nghiện ma túy nhƣng vẫn còn nghiện nên đề nghị Toà án đƣa Đỗ Trọng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một phát biểu quan điểm: Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trọng N đúng theo qui định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình thụ lý giải quyết và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng theo các qui định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Do Đỗ Trọng N có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Bản thân Đỗ Trọng N đã thành niên, có nơi cƣ trú ổn định, từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng do nghiện ma túy nhƣng vẫn còn nghiện nên việc Trƣởng Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp. Đề nghị Toà án chấp nhận theo lời đề nghị của Phòng lao động thƣơng binh và xã hội.

XÉT THẤY:

Do Đỗ Trọng N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an phƣờng C lập biên bản vi phạm hành chính. Việc lập biên bản vi phạm hành chính của Công an phƣờng C đối với Đỗ Trọng N là phù hợp theo Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính, đƣợc hƣớng dẫn tại Điều 6 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Theo phiếu trả lời kết quả ngày 04/3/2020 của Trung tâm y tế thành phố M thể hiện Đỗ Trọng N có nghiện ma tuý, loại ma tuý là Methamphetamine.

Đỗ Trọng N có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là ngày 04/3/2020 tính đến ngày Toà án mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa Đỗ Trọng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu, theo qui định tại Điểm d Khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính, đƣợc hƣớng dẫn tại Điều 4 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Theo hồ sơ thể hiện Đỗ Trọng N có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại khu phố L , phƣờng C, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng. Bản thân Đỗ Trọng N đã thành niên, có nơi cƣ trú ổn định, từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng do nghiện ma túy nhƣng vẫn còn nghiện. Do đó Chủ tịch UBND phƣờng C quyết định lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp theo qui định tại Điểm a Khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm xử lý vi phạm hành chính.

Xét thấy, Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trọng N là phù hợp theo qui định tại Điều 95, 96 và Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính, các Điều 8, 9, 10 và Điều 11 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ – CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP. Hồ sơ đã đƣợc Trƣởng phòng tƣ pháp kiểm tra và xác định hồ sơ đã đảm bảo tính pháp lý, theo qui định tại Điều 12 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ – CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Đỗ Trọng N xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con ngƣời cũng nhƣ ảnh hƣởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những tội phạm hình sự khác. Do đó, cần thiết phải đƣa Đỗ Trọng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để chữa bệnh, lao động, học văn hóa và học nghề nhằm giúp Đỗ Trọng N trở thành ngƣời tốt và có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Không có.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trọng N trong thời gian 12 tháng đến 15 tháng là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trọng N.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mƣời hai) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đƣa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3/ Ngƣời bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đƣợc quyết định, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Quyết định đƣợc công bố.

4/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5/ Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ