- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hờ A L.
- Căn cứ chính? Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẠM TẤU TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 19/QĐ-TA | Trạm Tấu, ngày 09 tháng 5 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẠM TẤU, TỈNH YÊN BÁI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Lên - Chủ tọa phiên họp.
2. Thư ký phiên họp: Ông Hờ A Say - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.
Ngày 09-5-2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 28/QĐ-TA ngày 24-4-2025 và Thông báo Về việc hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số: 02/TB-TLHS ngày 06 tháng 5 năm 2025, đối với:
Đối với: Hờ A L, tên gọi khác: Không.
Giới tính: Nam. Sinh ngày 09 tháng 5 năm 1976.
Số định danh cá nhân: 015076000492.
Dân tộc: Mông. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Không biết chữ.
Nguyên quán: Xã X, huyện T, tỉnh Yên Bái.
Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái.
Nghề nghiệp: Nông Nghiệp.
Con ông Hờ A N và bà Thào Thị M.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Hờ A L vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan Công an xã đã giúp Chủ tịch UBND xã Bản Công lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Ông Lò Văn T - Trưởng Công an xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái: Bà Hà Thị Huế- Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị và diễn biến tại phiên họp, nội dung sự việc được tóm tắt như sau:
Hờ A L sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 11 năm 2023, ngày 12-3-2025 L có đơn đề nghị Trạm y tế xã B, huyện T xác định tình trạng nghiện ma túy đối với L. Trạm y tế xã B tiếp nhận và theo dõi, đến ngày 10-4-2025 ra phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, xác định Hờ A L là người nghiện ma tuý (loại Morphine, H). Ngày 10-4-2025 Công an xã B ra thông báo về tình trạng nghiện ma túy và yêu cầu L trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày 10-4-2025 đến ngày 18-4-2025 phải đến UBND xã B, hyện T, tỉnh Yên Bái để đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 116/2021 của Chính phủ nhưng L không thực hiện. Ngày 18-4-2025 UBND xã B đã tiến hành lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện đối với L về hành vi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Ngày 18-4-2025 Công an xã B Thông báo số 74/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L.
Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai cùng ngày 18-4-2025, Hờ A L thừa nhận: Loại ma túy thường sử dụng là H, hình thức sử dụng là hít, tần suất sử dụng 01 lần/ngày, thời điểm sử dụng ma túy lần đầu từ tháng 11 năm 2023, thời điểm sử dụng ma túy lần cuối là ngày 09-4-2025.
Tại phiên họp:
Đại diện Công an xã đã giúp Chủ tịch UBND xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trình bày nội dung đề nghị, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa Hờ A L đi cai nghiện bắt buộc thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng, vì nếu để Hờ A L ngoài cộng đồng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát huyện T, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật. Từ khi thụ lý hồ sơ cho đến trước thời điểm Thẩm phán công bố quyết định đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Căn cứ hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Công an xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái, đưa Hờ A L đi cai nghiện bắt buộc, thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
XÉT THẤY
Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý hồ sơ và Quyết định mở phiên họp cho Hờ A L hợp lệ, nhưng tại phiên họp L vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022, Toà án tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.
Xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L đã bảo đảm tính hợp pháp và đầy đủ, theo quy định tại Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Hờ A L là người có nơi cư trú ổn định, sử dụng trái phép chất ma túy khoảng một năm nay, bản thân L nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, có những tác động xấu đến bản thân, gia đình và xã hội, nhưng vì thiếu ý thức tôn trọng pháp luật, không chịu rèn luyện tu dưỡng, bản thân có lối sống buông thả, L đã sử dụng ma túy là vi phạm khoản 5 Điều 5 Luật Phòng chống ma túy. Do đó, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy; Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Về nhân thân: Hờ A L sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 11 năm 2023. Mặc dù nghiện chất ma túy nhưng bản thân L không chịu từ bỏ vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy nên nhận xét, đánh giá là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình lập hồ sơ, Hờ A đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính nên cần xem xét áp dụng.
Với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính tự nguyện khai báo và nhân thân như trên, xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian nhất định là cần thiết, đồng thời tạo điều kiện cho L cai nghiện hiệu quả, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Ý kiến của Đại diện Công an xã B và ý kiến của Kiểm sát viên nhất trí đề nghị đưa L, vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, nên được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
- Căn cứ các khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma tuý; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
- Căn cứ Điều 3, Điều 8, khoản 2 Điều 20, Điều 23, Điều 24, Điều 31, Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
- Căn cứ Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hờ A L.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 23 (Hai mươi ba) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Hờ A L có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định, Công an xã B, huyện T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - TAND tỉnh Yên Bái; - Công an xã Bản Công, huyện Trạm Tấu; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Trạm Tấu; - UBND xã Bản Công; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Văn Lên |