vanban.org

Quyết định 19/2024/HS-GĐT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 13/03/2024 Hình sự Giám đốc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 13/QĐ-VC3-V1 ngày 25/12/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Giữ nguyên Bản án hình sự phúc thẩm số 397/2023/HS-PT ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh N. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng giả - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giảm (điều 156 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 13/QĐ-VC3-V1 ngày 25/12/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 389 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định số: 19/2024/HS-GĐT
Ngày 13 tháng 3 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Xuân

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Thanh Dũng

Bà Trần Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly - Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

1. Phạm Khắc C, sinh năm 1987 tại H. Nơi thường trú: Đội 7, thôn Đ, xã K, huyện M, tỉnh H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phạm Khắc C1 và bà Nguyễn Thị C1; Bị cáo có vợ là Đỗ Thị TH (đã ly hôn) và 01 con chung; bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị NH có 01 con chung. Tiền án; Tiền sự: không.

2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 tại H. Nơi thường trú: Đội 8, thôn Đ, xã K, huyện M, tỉnh H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Đức KH và bà Đỗ Thị Q; Bị cáo có vợ là Lê Thị Kim TH2 và 03 con chung. Tiền án; Tiền sự: không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyễn Văn T và Phạm Khắc C là bạn bè. Khoảng tháng 8/2020 C rủ T mỗi người góp 150.000.000 đồng mua hàng hóa giả, hàng hóa trôi nổi không rõ nguồn gốc để bán lại kiếm lời, T đồng ý. Thực hiện ý định trên, C và T từ tỉnh H đến thuê nhà tại khu 80, khu phố LĐ1, phường TP, thành phố BN, tỉnh N để mua bán hàng giả, hàng hóa trôi nổi không rõ nguồn gốc bằng cách nhiều lần sử dụng mạng xã hội facebook liên hệ với 01 người tên Huân có tài khoản “Thanh Thảo” không rõ nhân thân lai lịch đặt mua chai chất bôi trơn đa dụng RP7 giả sản phẩm do Công ty Trách nhiệm hữu hạn PN Việt Nam nhập khẩu, sản xuất, phân phối và keo Apolo Silicone Sealant giả sản phẩm do Công ty Cổ phần hóa chất và vật liệu xây dựng QA sản xuất, sau khi đặt người bán giao hàng cho C và T tại nơi C và T thuê nhà, thời gian, số lượng hàng hóa C và T đã đặt và nhận, cụ thể:

Khoảng tháng 9/2020, C đặt mua khoảng 50 thùng chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 150g và khoảng 10 thùng keo Apolo Silicone A300. Khoảng tháng 10/2020, mua C đặt mua khoảng 15 thùng chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 175g, 20 thùng chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 300g, 05 thùng chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 350g. Khoảng tháng 11/2020, C đặt mua khoảng 200 thùng chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 150g. Khoảng tháng 12/2020, C đặt mua khoảng 200 thùng chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 150g, 20 thùng chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 175g, 07 thùng chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 300g, 10 thùng chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 350g. Ngoài ra, khoảng tháng 12 năm 2020 C còn đến khu vực chợ Kim Biên tại Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh để mua một số sản phẩm không rõ nguồn gốc mang về cất giấu.

Sau khi có hàng hóa C và T chia nhau mang đi bán lại cho những người có nhu cầu chủ yếu là các cửa hàng cơ khí dọc các tuyến Quốc lộ 51, đường Võ Nguyên Giáp, thành phố BN (số lượng và thời gian cụ thể C và T không nhớ chính xác).

Đến sáng ngày 15/01/2021, khi T đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 34F1-298.96 chở theo 96 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 175g, 96 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 350g, 50 chai Silicone Apolo loại 300ml đi tiêu thụ thì bị lực lượng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh N phối hợp với Công an Đồn Khu công nghiệp TP kiểm tra phát hiện tạm giữ số hàng hóa trên. Qua lời khai nhận của T, lực lượng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh N tiếp tục kiểm tra nơi ở của T phát hiện, tạm giữ 14.136 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 150g; 912 chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 175g; 1044 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 300g; 300 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 350g; 65 chai Apolo Silicone Sealant loại 300ml; 683 tuýp keo Alpha Grey loại 85g; 59 hộp CanaCar Cream loại 220g; 167 chai Ketang dung tích 700ml; 191 chai có nhãn hiệu ghi bằng tiếng nước ngoài, dung tích 750ml và một số công cụ, sản phẩm, tài liệu liên quan đến việc mua bán các sản phẩm trên. Qua làm việc T và C thừa nhận hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận giám định số 1163 ngày 01/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N đã kết luận 384 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 175g; 288 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 300g; 12 chai chất bôi chơn đa dụng RP7 loại 350g đều là giả và theo Kết luận định giá tài sản số 86 ngày 18/04/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BN thì các hàng hóa này có tổng giá trị là 42.723.864 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 766 ngày 31/08/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, đã kết luận 624 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 175g; 756 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 300g; 228 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 350g; 115 chai keo Apolo Silicone Sealant loại 300ml đều là giả và theo Kết luận định giá tài sản số 100 ngày 20/03/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BN thì các hàng hóa này có tổng giá trị là 111.384.132 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 290/2023/HS-ST ngày 21/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố BN, tỉnh N xét xử:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 192; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự. Tuyên bố các bị cáo Phạm Khắc C và Nguyễn Văn T phạm tội “Buôn bán hàng giả”. Xử phạt: Bị cáo Phạm Khắc C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Nguyễn Văn T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/7/2023 bị cáo C và bị cáo T kháng cáo bản án xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 397/2023/HS-PT ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh N xét xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Khắc C và Nguyễn Văn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 13/QĐ-VC3-V1 ngày 25/12/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị một phần bản án hình sự phúc thẩm số 397/2023/HS-PT ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh N. Đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm sửa một phần bản án hình sự phúc thẩm nêu trên theo hướng giảm nhẹ hình phạt và xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với C và T.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành

phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận của C và T tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, có đủ cơ sở xác định: Ngày 15/01/2021, tại khu vực 80, khu phố LĐ1, phường TP, thành phố BN, tỉnh N, các bị cáo Phạm Khắc C và Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ 1008 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 175g, 1044 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 300g, 240 chai chất bôi trơn đa dụng RP7 loại 350g và 115 chai Apolo Silicone Sealant loại 300ml là hàng hóa giả các sản phẩm do Công ty Trách nhiệm hữu hạn PN Việt Nam và Công ty Cổ phần hóa chất và vật liệu xây dựng QA nhập khẩu, sản xuất và phân phối để bán kiếm lời. Tổng trị giá tài sản là hàng giả qua định giá là 154.107.996 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án C và T về tội “Buôn bán hàng giả” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 192 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét thấy, đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn; C là người rủ rê T thực hiện tội phạm nên C có vai trò cao hơn T. Hành vi phạm tội của của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước trong quản lý thị trường, trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến sự quản lý Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa; xâm phạm lợi ích của người tiêu dùng, quyền được bảo hộ về sở hữu trí tuệ, kinh doanh đúng đắn của các doanh nghiệp, các nhà sản xuất; gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội nên cần xử lý nghiêm.

Tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt: “bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Điểm đ khoản 2 Điều 192 Bộ luật Hình sự quy định về định lượng số hàng giả từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng và có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Các bị cáo phạm tội, khi bị bắt giữ tổng trị giá hàng giả là 154.107.996 đồng (chưa tính số hàng đã tiêu thụ trót lọt). Do C và T đều không có tình tiết tăng nặng; không có tiền án, tiền sự; cả hai bị cáo được Tòa án áp dụng tình tiết giảm nhẹ là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;” theo quy định tại điểm s khoản 1 và các tình tiết giảm nhẹ khác như: đều có con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn; C có thời gian phục vụ trong quân đội, T có ông nội là người có công với cách mạng theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự quy định: “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này”. Cả hai bị cáo C và T chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Tòa án hai cấp đã xử phạt C 05 năm 06 tháng tù, xử phạt T 05 năm tù là đúng quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo; không sai lầm trong áp dụng các nguyên tắc khoan hồng trong xét xử theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 382, khoản 1 Điều 388, Điều 389, Điều 395 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 13/QĐ-VC3-V1 ngày 25/12/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Giữ nguyên Bản án hình sự phúc thẩm số 397/2023/HS-PT ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh N.

3. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ