- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Nguyễn Thị Thu H đối với ông Bùi Văn L, sinh năm: 1962.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 19/2023/QĐST-VDS | Ba Đình, ngày 21 tháng 02 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM
GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Đinh Ngọc Liên - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Đồng Minh Hoàn - Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thu Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 298/2022/TLST- VDS ngày 24 tháng 11 năm 2022 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2023/QĐST-MPH ngày 06 tháng 01 năm 2023, giữa:
* Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị Thu H, Sinh năm: 1969. ĐKHKTT: Số 83 T, phường T, quận T, thành phố H; Nơi ở: Phòng N chung cư K 161 X, phường X, quận B, thành phố H. Nơi công tác: Trường tiểu học B – Địa chỉ: 145 H, phường N, quận B, thành phố H. (Có mặt)
* Người bị yêu cầu: Ông Bùi Văn L, sinh năm: 1962. ĐKHKTT: Số 17 C, phường B, quận T, thành phố H; Nơi ở: Số 9 ngách 55/35 H, phường N, quận B, thành phố H. Hiện tạm thời điều trị tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi B; Địa chỉ: Số 10, ngách 39/11 Đ, phường Đ, quận B, thành phố H. (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Bùi Vũ A, Sinh năm: 1992; ĐKHKTT: Số 83 T, phường T, quận T, thành phố H; Nơi ở: P, chung cư E, 968 đường A phường B, quận 11, thành phố H. (Có đơn xin vắng mặt).
2. Chị Bùi Nguyễn Hà M, sinh năm: 2000; ĐKHKTT: Số 83 T, phường T, quận T, thành phố H; Nơi ở: Phòng N chung cư K 161 X, phường X, quận B, thành phố H. (Có mặt).
NỘI DUNG
Tại đơn yêu cầu và tại biên bản ghi lời khai ngày 02/12/2022 người yêu cầu là bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Bùi Văn L là vợ chồng hợp pháp. Từ khi vợ chồng bà kết hôn, ông Bùi Văn L vẫn khỏe mạnh và làm việc bình thường. Đến tháng 10/2018, ông L bị tai nạn dẫn đến trấn thương sọ não, bị liệt nửa người dưới không thể đi lại được, lú lẫn không thể tự chăm sóc bản thân. Tại thời điểm ông L bị tai nạn, bà H và ông L đang sinh sống tại số 17 ngách 10 ngõ 324 T (số cũ: Số 17 C), phường B, quận T, thành phố H. Đến tháng 9 năm 2022, do bà H bận công tác, các con đều đi làm nên bà H phải gửi ông L đến địa chỉ: số 9 ngách 55/35 H, phường N, quận B, thành phố H để nhờ người chăm sóc hàng ngày. Sau khi bà H nộp đơn đến Tòa án nhân dân quận Ba Đình, do sức khỏe của ông L có nhiều vấn đề nên bà H tạm gửi ông L vào Trung tâm chăm sóc người cao tuổi B tại số 10 ngách 39/11 Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội để điều trị một thời gian. Mọi sinh hoạt cá nhân hàng ngày của ông L hoàn toàn do người khác phục vụ. Hiện nay ông L vẫn uống thuốc bổ não, bổ thần kinh nhưng không có nhiều tác dụng, ông L không có tiến triển gì về sức khỏe kể từ năm 2018 đến nay. Bà H đề nghị Tòa án tuyên bố ông Bùi Văn L là người mất năng lực hành vi dân sự và cử bà Nguyễn Thị Thu H là người giám hộ theo pháp luật cho ông Bùi Văn L.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 02/12/2022, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Vũ A và chị Bùi Nguyễn Hà M trình bày:
Anh Bùi Vũ A, chị Bùi Nguyễn Hà M là con trai và con gái của ông Bùi Văn L. Ông Luận là người có sức khỏe bình thường, tháng 10/2018, ông Luận bị tai nạn dẫn đến chấn thương sọ não, bị liệt nửa người dưới không thể đi lại được, lú lẫn không thể tự chăm sóc bản thân. Do hoàn cảnh gia đình neo người, bên cạnh đó sức khỏe của ông Luận có nhiều vấn đề nên gia đình tạm gửi ông L vào Trung tâm chăm sóc người cao tuổi B tại số 10 ngách 39/11 Đ, phường Đ, quận B, thành phố H để điều trị một thời gian. Mọi sinh hoạt cá nhân hàng ngày của ông L hoàn toàn do người khác phục vụ. Hiện nay ông L vẫn uống thuốc bổ não, bổ thần kinh theo điều trị của bác sĩ nhưng không có nhiều tác dụng, ông L không có tiến triển gì về sức khỏe kể từ năm 2018 đến nay.
Bà Nguyễn Thị Thu H là vợ hợp pháp của ông Bùi Văn L nên anh Bùi Vũ A, chị Bùi Nguyễn Hà M nhất trí đề nghị Tòa án cử bà Nguyễn Thị Thu H là người giám hộ theo pháp luật cho ông Bùi Văn L.
Tại phiên họp, người yêu cầu là bà Nguyễn Thị Thu H, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Nguyễn Hà M vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố ông Bùi Văn L là người mất năng lực hành vi dân sự và cử bà Nguyễn Thị Thu H là người giám hộ theo pháp luật cho ông Bùi Văn L.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự:
Về trình tự, thủ tục tố tụng đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình áp dụng Điều 369, Điều 370, Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 22, Điều 52, Điều 53, điều 54 bộ luật dân sự 2015: Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” của bà Nguyễn Thị Thu H đối với ông Bùi Văn L. Đề nghị Tòa án chỉ định bà Nguyễn Thị Thu H là người giám hộ cho ông Bùi Văn L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ba Đình nhận định:
Căn cứ vào bản tự khai của bà Nguyễn Thị Thu H, anh Bùi Vũ A, chị Bùi Nguyễn Hà M; Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập được.
Căn cứ kết luận giám định sức khỏe tâm thần theo trưng cầu số: 15/KLGĐ ngày 17/01/2023 của Viện pháp y tâm thần Trung ương; kết luận: “Tại thời điểm giám định đối tượng Bùi Văn L bị bệnh Mất trí sau chấn thương sọ não. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bênh có mã số F02.8. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét thấy: Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở để xác định ông Bùi Văn L là người mất năng lực hành vi dân sự. Bà Nguyễn Thị Thu H có yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ba Đình tuyên bố ông Bùi Văn L là người mất năng lực hành vi dân sự và cử bà Nguyễn Thị Thu H làm người giám hộ cho ông Bùi Văn L là có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.
Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 369, Điều 370, Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ vào các Điều 22, Điều 52, Điều 53, điều 54 bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Nguyễn Thị Thu H đối với ông Bùi Văn L, sinh năm: 1962. ĐKHKTT: Số 17 C, phường B, quận T, thành phố H; Nơi ở: Số 9 ngách 55/35 H, phường N, quận B, thành phố H. Hiện tạm thời điều trị tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi B; Địa chỉ: Số 10, ngách 39/11 Đ, phường Đ, quận B, thành phố H.
2. Tuyên bố ông Bùi Văn L, sinh năm: 1962. ĐKHKTT: Số 17 C, phường B, quận T, thành phố H; Nơi ở: Số 9 ngách 55/35 H, phường N, quận B, thành phố H. Hiện tạm thời điều trị tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi B; Địa chỉ: Số 10, ngách 39/11 Đ, phường Đ, quận B, thành phố H là người mất năng lực hành vi dân sự.
3. Chỉ định bà Nguyễn Thị Thu H là người giám hộ theo pháp luật cho ông Bùi Văn L.
4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu H tự nguyện chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng lệ phí đã nộp tại biên lai thu số 0002739 ngày 24 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; - Chi Cục THA dân sự quận Ba Đình: - UBND phường N, quận B; - Người yêu cầu; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN (Đã ký) Đinh Ngọc Liên |