- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành Trung"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hàn…; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 19/2023/QĐ-TA | Tân Phú, ngày 09 tháng 8 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Bá Đại.
2. Thư ký phiên họp: Ông Trần Văn Thượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 21/QĐ-TA ngày 02 tháng 8 năm 2023, đối với:
Họ và tên: Nguyễn Thành T. Giới tính: Nam.
Sinh năm: 1994, tại Đồng Nai.
Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 9/12.
Nghề nghiệp: Làm rẫy
Nơi thường trú: Ấp 3, xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai.
Nơi ở hiện nay: Ấp 3, xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai.
Con ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị Th.
Tiền án: Không
Tiền sự: Không
Ngày 03/5/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định số 04/QĐ-UBND về việc Quản lý người nghiện ma túy tại nơi cư trú.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Dương Huy Thông – Chuyên viên Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Tân Phú.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Thành T sử dụng ma túy từ năm 2017. Ngày 03/5/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định số 04/QĐ-UBND về việc quản lý người nghiện ma túy tại nơi cư trú, tuy nhiên trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú thì vào ngày 14/7/2023, Nguyễn Thành T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an xã P phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính. Theo Biên bản xét nghiệm chất ma túy và phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 14/7/2023 xác định: Nguyễn Thành T nghiện ma túy đá (MET).
Tại bản tường trình và Biên bản ghi lời khai đề ngày 14/7/2023, Nguyễn Thành T trình bày, trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy 01 năm của UBND xã P nhưng bị bạn bè lôi kéo nên vào ngày 14/7/2023 T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức hút. Đến ngày 14/7/2023 thì bị Công an xã P phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính.
Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Tân Phú: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành T, thời hạn là 24 (Hai mươi bốn) tháng tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Việc thụ lý, giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền, hồ sơ đầy đủ tài liệu theo quy định, đảm bảo cho việc xem xét, phán quyết của Tòa án.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Tân Phú và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú.
XÉT THẤY:
Tính hợp pháp về thẩm quyền và thời hiệu:
Nguyễn Thành T thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 14/7/2023 bị Công an xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính, thẩm quyền và thời hiệu đúng theo quy định tại Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013.
[2] Tại phiên họp Nguyễn Thành T vắng mặt không có lý do chính đáng, căn cứ vào khoản 2 Điều 19 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
Tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:
Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành T đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 13, Điều 14 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013; Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09-09-2016 và Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07-02-2018.
Hồ sơ đầy đủ các tài liệu, văn bản chứng minh lý lịch, nhân thân, hành vi vi phạm, kết quả xác nhận của người có thẩm quyền về tình trạng nghiện ma túy ngày 14/7/2023 xác định:
Nguyễn Thành T là người nghiện ma túy từ năm 2017. T sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hút. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 04/QĐ-UBND ngày 03/5/2022 của Chủ tịch UBND xã P thì T tiếp tục sử dụng ma túy vào ngày 14/7/2023 đến ngày 14/7/2023 thì bị Công an xã P, huyện T1 phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính. Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 14/7/2023 xác định kết quả T dương tính với ma túy đá (MET). Tại phiếu kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 14/7/2023 của Trạm y tế xã P có kết quả T nghiện ma túy đá (MET). Vì vậy, có đủ căn cứ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính đối với T.
Ma túy là chất gây nghiện, ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần và là nguyên nhân phát sinh của các loại tội phạm khác gây nguy hiểm cho xã hội. Bản thân T nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thường xuyên sử dụng ma túy. Bản thân T đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vào năm 2020.
Do đó, để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cần thiết áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian dài, tạo điều kiện cho T chữa bệnh, lao động, học tập văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về tình tiết tăng nặng: không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ người vi phạm hành chính đã thành khẩn khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính để cân nhắc quyết định mức thời gian cai nghiện bắt buộc cho phù hợp.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên họp thì việc Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Tân Phú đề nghị đưa Nguyễn Thành T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 (hai mươi bốn) tháng là có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ áp dụng pháp luật:
Căn cứ vào các Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 13, Điều 14 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013; Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09-09-2016 và Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07-02-2018
Căn cứ vào các Điều 96; Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính số 67/2020/QH14 ngày 13/11/2020; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật xử phạt hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
Họ và tên: Nguyễn Thành T, Sinh năm: 1994
Nơi thường trú: Ấp 3, xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai.
Nơi ở hiện nay: Ấp 3, xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai.
Vào Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Số 70, Ấp Bình Tân, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định. Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp thì có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện Tân Phú và Phòng Lao động – thương binh và xã hội huyện Tân Phú có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tân Phú; - Công an huyện Tân Phú; - Phòng LĐ-TB&XH huyện Tân Phú; - UBND xã P; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Bá Đại |