- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị M"
- Tòa quyết gì? Về Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trương Thị M và anh Đặng Duy H.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 19/2022/QĐST-HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 15 tháng 4 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hồ Đức Quang
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Linh Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 28/2022/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 3 năm 2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 15/2022/QĐ-ST ngày 28/3/2022 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân và gia đình số 02/TB-TA, ngày 04/4/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Chị Trương Thị M, sinh năm 1997.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh : Xóm 5, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An (Hiện trú tại: Số nhà 579, đường Changle, quận Annan, thành phố Đài Nam, Đài Loan - Vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
2. Anh Đặng Duy H, sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai của chị Trương Thị M và anh Đặng Duy H thống nhất trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị M và anh Đặng Duy H là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 17/12/2018 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Thời gian đầu sau khi kết hôn, hai người sống hạnh phúc cho đến năm 2019 do kinh tế khó khăn, chị Trương Thị M sang Đài Loan làm ăn. Do cuộc sống vợ chồng sống xa nhau cùng với việc giữa hai người thường xuyên bất đồng quan điểm sống, thiếu tôn trọng nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Nay chị Trương Thị M và anh Đặng Duy H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, chị Trương Thị M và anh Đặng Duy H đều có đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị Trương Thị M và anh Đặng Duy H đều thống nhất vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, chị Trương Thị M và anh Đặng Duy H cũng trình bày hiện nay do tính chất công việc cũng như tình hình dịch Covid-19 không có điều kiện về để tham gia tố tụng nên cả hai người có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, người yêu cầu giải quyết việc ly hôn và phân tích nội dung các đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau nên đề nghị Tòa án áp dụng Điều 149, Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 55, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Chị Trương Thị M hiện đang làm việc tại Đài Loan, các giấy tờ chị gửi về yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hùng đều có xác nhận của Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời chị M và anh H đều có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc ly hôn vắng mặt chị Trương Thị Mai và anh Đặng Duy H theo quy định pháp luật.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu do chị Trương Thị M và anh Đặng Duy H cung cấp cho Tòa án thể hiện chị M và anh H có đăng ký kết hôn vào ngày 17/12/2018 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh nên hôn nhân giữa chị M và anh H là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo trình bày của chị M và anh H là do tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm sống, thiếu tôn trọng lẫn nhau cùng với khoảng cách về địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt không thể hàn gắn.
Căn cứ theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn ... thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị M và anh H đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được và sự thỏa thuận của hai người là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Do đó, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trương Thị M và anh Đặng Duy H để hai người sớm ổn định cuộc sống.
Quan hệ con chung: Chị Trương Thị M và anh Đặng Duy H đều thống nhất không có nên miễn xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 55, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trương Thị M và anh Đặng Duy H.
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện chịu 300.000đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Trương Thị M. Số tiền 300.000đồng chị M đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000115, ngày 01/3/2022 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - Đương sự ; - UBND xã Xuân Giang; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN - CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Hồ Đức Quang |