- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc “Tuyên bố một người là đã chết”
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 19/2022/QĐST-DS | Sơn Trà, ngày 30 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ-THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Lê Thị Thuý Hằng
Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Hương Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 05/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2022 về yêu cầu "Tuyên bố một người là đã chết" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/QĐ-TA ngày 20 tháng 9 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1954, địa chỉ: Tổ 80, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1970, địa chỉ: số 99 đường P, tổ 72, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn Nga: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1972, địa chỉ: phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy uỷ quyền được lập tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Thanh ngày 23/9/2022). Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Người yêu cầu ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa giải quyết nội dung sau:
Cha mẹ ông Nguyễn Văn T là ông Nguyễn S, sinh năm 1922, chết năm 1974 và bà Đoàn Thị K, sinh năm: 1923, chết năm 2011. Nơi cư trú của cha mẹ ông trước khi chết là tổ 32A phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Ông Nguyễn S và bà Đoàn Thị K có 08 người con chung gồm: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1946 đã chết năm 1974, ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957, ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1955 đã chết năm 2013, ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1961 đã mất tích, ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963 đã mất tích, bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1965 đã mất tích, ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966 đã mất tích, ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1970.
Năm 1981, em gái của ông là bà Nguyễn Thị M đã bỏ nhà đi vượt biên, đến nay không có tin tức và không biết còn sống hay đã chết. Gia đình ông đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có kết quả. Để có cơ sở cho việc giải quyết việc dân sự của gia đình, ông Nguyễn Văn T yêu cầu Toà án tuyên bố bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: tổ 32A (nay là tổ 72), phường N, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng là đã chết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn N thống nhất với ý kiến như đơn của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu Toà án tuyên bố bà Nguyễn Thị M là đã chết. Đối với các ông Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Đ cũng đã bỏ đi vượt biên từ năm 1981 cùng với bà Nguyễn Thị M và nay gia đình ông T cũng đang yêu cầu Toà án tuyên bố những người này là đã chết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự, đề nghị Toà án căn cứ quy định tại Điều 391, 392 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 68, khoản 1 Điều 71, Điều 147 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị M đã chết và xác định ngày chết của bà Nguyễn Thị M là ngày 01/01/1987.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Sơn Trà nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” của ông Nguyễn Văn T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết bà Nguyễn Thị M có nơi cư trú cuối cùng tại tổ 32A (nay là tổ 72), phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung việc dân sự:
. Theo lời khai của các thành viên trong gia đình bà Nguyễn Thị M cũng như thông tin của chính quyền địa phương, công an địa phương nơi bà Nguyễn Thị M cư trú cung cấp thì bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965 là con chung của ông Nguyễn S và bà Đoàn Thị K. Tại Giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú trong hộ mẹ bà M là bà Đoàn Thị K có bà tên Nguyễn Thị M, sinh năm 1965. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định bà Nguyễn Thị M sinh năm 1965, nơi cư trú cuối cùng của bà trước khi biệt tích tại tổ 32A (nay là tổ 72), phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng.
. Vào năm 1981 bà Nguyễn Thị M thông báo với gia đình đi vượt biên và biệt tích cho đến nay không có tin tức gì. Thời gian bà Nguyễn Thị M biệt tích đã hơn 41 năm, gia đình đã tìm kiếm nhưng không có kết quả. Tại các biên bản xác minh tại Công an phường N, tổ dân phố tổ 32A cũ nay là tổ 72 phường N đều thể hiện việc bà Nguyễn Thị M đã bỏ đi biệt tích khỏi địa phương từ năm 1981. Toà án nhân dân quận Sơn Trà đã làm thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể là đăng trên Báo Nhân dân, phát trên Đài Truyền hình Việt Nam, thông báo trên Cổng thông tin điện tử Tòa án để tìm kiếm bà Nguyễn Thị M nhưng đến nay đã hơn 04 tháng kể từ ngày đăng phát đầu tiên ngày 25/5/2022 vẫn không có tin tức xác thực là bà Nguyễn Thị M còn sống. Do vậy, có cơ sở để chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn T, tuyên bố bà Nguyễn Thị M đã chết.
. Thời gian biệt tích của bà Nguyễn Thị M được xác định vào năm 1981 nên căn cứ khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự để xác định ngày chết của bà Nguyễn Thị M là sau 05 năm liền biệt tích và không có tin tức xác thực là còn sống, thời hạn 05 năm được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng là ngày 01/01/1982, ngày chết được xác định là ngày 01/01/1987.
. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết được giải quyết theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự.
. Lệ phí giải quyết việc dân sự: căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Văn T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.
. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú trên báo, đài do ông Nguyễn Văn T chịu, đã nộp đã chi.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 71 và Điều 72 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc “Tuyên bố một người là đã chết”
Tuyên bố: bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: tổ 32A cũ (tổ 72 mới), phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng đã chết. Ngày chết của bà Nguyễn Thị M được xác định là ngày 01 tháng 01 năm 1987.
Kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật, quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Nguyễn Thị M được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của bà Nguyễn Thị M được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của bà Nguyễn Thị M được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) ông Nguyễn Văn T đã nộp tại biên lai thu số 0003318 ngày 09 tháng 5 năm 2022 tại Chi cục thi hành án quận S, thành phố Đà Nẵng.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Sơn Trà; - Chi cục THADS quận Sơn Trà; - UBND phường N; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP (Đã ký) LÊ THỊ THUÝ HẰNG |