- Tranh chấp gì? "quyết định"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B, địa chỉ: Đường Thân Khuê, xã Song Mai, thành phố B đối với: Lương Minh T, sinh năm 1983, nơi cư trú: Số nhà 213, đường Nguyên Hồng, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố B, tỉnh B
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 19/2022/QĐ-TA | B, ngày 14 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH B
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Ông Trần Mạnh Thắng - Thẩm phán Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B.
Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 07/QĐ-TA ngày 06/7/2022
Họ và tên: Lương Minh T; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm 1983; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; nơi cư trú: Số nhà 213, đường Nguyên Hồng, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố B, tỉnh B; con ông Lương Cao Nguyên (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc (đã chết)
Tiền án, tiền sự: Không
(Có mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Bá Lượng - Trưởng Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố B, tỉnh B; người đại diện theo ủy quyền ông Lê Trần Phúc – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố B, Giấy uỷ quyền số: 03/LĐTB ngày 06/01/2022 của Trưởng phòng Lao động
- Thương Binh và Xã hội thành phố B (Có mặt tại phiên họp).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Ông Trần Văn Trí - Kiểm sát viên (Có mặt tại phiên họp)
NHẬN THẤY:
Đối tượng Lương Minh T nghiện ma túy từ năm 2014. Ngày 31/12/2019 Tòa án nhân dân thành phố B quyết định cho T đi cai nghiện bắt buộc 12 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B, ngày 10/01/2021 T chấp hành xong thời gian cai nghiện. Ngày 05/01/2022 UBND phường Hoàng Văn Thụ ra quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với T. Sau khi cai nghiện, T tiếp tục sử dụng ma túy mỗi tuần 02 lần bằng hình thức chích hêrôin vào cơ thể. Ngày 20/6/2022, T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường Hoàng Văn Thụ, thành phố B lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngày 24/6/2022, Trạm y tế phường Hoàng Văn Thụ có phiếu trả lời kết quả xác định người nghiện ma túy đối với Lương Minh T. Ngày 24/6/2022 UBND phường Hoàng Văn Thụ ra quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai, T khai nhận do đua đòi bạn bè nên mắc nghiện ma túy hêrôin từ năm 2014, T sử dụng ma túy 02 lần/1 tuần, lần gần nhất T sử dụng là ngày 20/6/2022. Ngày 24/6/2022 Ủy ban nhân dân phường Hoàng Văn Thụ lập hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Minh T
Tại phiên họp:
Đại diện cơ quan đề nghị (Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố B, tỉnh B) – ông Lê Trần Phúc trình bày: Cơ quan đề nghị giữ nguyên quan điểm đề nghị đưa đối tượng Lương Minh T đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B, địa chỉ: Đường Thân Khuê, xã Song Mai, thành phố B với thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng để cai nghiện ma túy dứt điểm và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Người bị đề nghị - đối tượng Lương Minh T trình bày ý kiến về nội dung đề nghị của cơ quan đề nghị: Mức đề nghị đi cai nghiện bắt buộc từ 18 tháng đến 24 tháng của cơ quan đề nghị là cao. Đề nghị Tòa án xem xét quyết định cho đối tượng đi cai nghiện bắt buộc khoảng 12 tháng để có cơ hội trở về làm việc nuôi con, đối tượng quyết T cai nghiện trong thời gian sớm nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B tuân thủ đúng pháp luật trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Minh T. Viện kiểm sát đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện với thời gian từ 15 tháng đến 18 tháng cho đối tượng Lương Minh T.
XÉT THẤY:
Xét về hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Minh T: Hồ sơ đầy đủ các tài liệu, phù hợp với Điều 103 và Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020. Khoản 1 Điều 41; khoản 2 Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B, tỉnh B, đưa đối tượng Lương Minh T đi cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B: Đối tượng Lương Minh T là người nghiện ma túy từ năm 2014, ngày 31/12/2019 Tòa án nhân dân thành phố B quyết định cho T đi cai nghiện bắt buộc 12 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B, ngày 10/01/2021 T chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc. Ngày 05/01/2022 UBND phường Hoàng Văn Thụ, thành phố B ra quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với T với thời hạn 02 năm (từ ngày 10/01/2021 đến ngày 10/01/2023). Tuy nhiên, ngày 20/6/2022 T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy năm 2021
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 20/6/2022 của T chứng tỏ đối tượng khó có thể cai nghiện tại cộng đồng. Do vậy, để đối tượng cai nghiện được ma túy và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B, tỉnh B, đưa đối tượng Lương Minh T đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B một thời gian nhất định là phù hợp với quy định pháp luật.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Đối tượng Lương Minh T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Do vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho đối tượng theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét về tình tiết tăng nặng: Đối tượng Lương Minh T chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 41/2019/QĐ-TA ngày 31/12/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B ngày 10/01/2021. Ngày 20/6/2022 đối tượng lại có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ khoản 5 Điều 2, khoản 2 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì hành vi của T thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, Lương Minh T phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét nhân thân của đối tượng Lương Minh T: Đối tượng đã từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đề nghị đưa đối tượng đi cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian là phù hợp quy định pháp luật nên cần được chấp nhận.
Từ những nhận định trên,
Căn cứ Khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Khoản 2 Điều 95, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Căn cứ vào Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B, địa chỉ: Đường Thân Khuê, xã Song Mai, thành phố B đối với: Lương Minh T, sinh năm 1983, nơi cư trú: Số nhà 213, đường Nguyên Hồng, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố B, tỉnh B
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Đối tượng Lương Minh T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố B có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố B, tỉnh B.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Công an thành phố B; - Phòng LĐTB&XH thành phố B; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố B; - UBND phường Hoàng Văn Thụ, TP B; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B; - Lưu Hồ sơ. | THẨM PHÁN Trần Mạnh Thắng |