vanban.org

Quyết định 19/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Khuất Phi H. Anh Khuất Phi H được ly hôn chị Vũ Thị Th

Quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị Th chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh H xin ly hôn chị Th vì mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Khuất Phi H. Anh Khuất Phi H được ly hôn chị Vũ Thị Th
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚC THỌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 8 - 2022
V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Sơn

Bà Nguyễn Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Khuất Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 29/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp Hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2022/QĐXX-ST ngày 15 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27/7/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Khuất Phi H, sinh năm 1982 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện P, Thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Chị Vũ Thị Thanh, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm C, thôn T, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản khai và bản trình bày của các bên thì vụ án có nội dung như sau:

Anh Khuất Phi H và chị Vũ Thị Th kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn. Anh chị có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện P, Thành phố Hà Nội vào ngày 23/11/2012. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống với mẹ anh H tại nhà anh H, địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện P, Thành phố Hà Nội. Thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc cho đến tháng 5/2021 thì xảy ra mâu thuẫn dẫn đến việc từ tháng 12/2021, anh chị ly thân và không còn chung sống với nhau nữa.

Về nguyên nhân mâu thuẫn gia đình:

Theo lời trình bày của anh H thì nguyên nhân mâu thuẫn của anh chị là do vấn đề kinh tế gia đình, anh chị bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xô xát cãi vã. Chị Th có lần còn gọi bố và em trai đến dọa dẫm chửi bới anh H và mẹ đẻ anh H. Tháng 5/2021, vợ chồng xô sát, chị Th đã về nhà mẹ đẻ ở 05 tháng. Đến tháng 10/2021 thì anh xin lỗi gia đình vợ và gọi chị Th về. Vợ chồng lại chung sống nhưng tiếp tục mâu thuẫn và cãi cọ, xô sát. Từ tháng 12/2021, anh H và chị Th đã sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay anh H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Thanh.

Theo lời trình bày của chị Th thì vào tháng 5/2021, anh H bị tai nạn phải đi cấp cứu. Sau khi anh H ra viện, vợ chồng có mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, vợ chồng có cãi cọ xô xát. Sau đó, có người nói chị Th đi cặp bồ, kể từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị đã bỏ về nhà bố mẹ để nhưng đến tháng 10/2021, anh H xin lỗi gia đình chị và gọi chị về nên chị lại về chung sống với anh H. Song vợ chồng vẫn có mâu thuẫn và xô sát, chị lại về nhà mẹ đẻ ở và từ tháng 12/2021, anh chị đã ly thân cho tới nay. Trong thời gian ly thân, thỉnh thoảng chị Th có liên lạc nhưng anh H không trả lời, vợ chồng không gặp nhau nữa. Nay anh H xin ly hôn, chị thấy rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn với anh H.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị không có con chung. Anh chị đã đi bệnh viện khám và điều trị để có con nhưng đến nay không có kết quả. Do vậy đến nay anh chị không có con chung.

Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa: Anh H giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn.

Chị Th đã được triệu tập đến phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Việc Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Việc xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng, các thời hạn tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật. Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nhiệm vụ, thẩm quyền.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 28, 35, 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, cho anh H được ly hôn chị Th.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung: Không có.

Về án phí: Anh H thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Khuất Phi H là nguyên đơn khởi kiện xin giải quyết ly hôn với chị Vũ Thị Thanh, anh chị đều hiện đang cư trú trong địa bàn huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của anh H là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Vũ Thị Thđã được triệu tập đến phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Khuất Phi H và chị Vũ Thị Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện P, Thành phố Hà Nội vào ngày 23 tháng 11 năm 2012. Vì vậy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng anh H, chị Th chung sống hạnh phúc cho đến tháng 5/2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng gặp khó khăn về kinh tế gia đình, anh chị có nhiều bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xô xát cãi vã. Chị Th đã nhiều lần bỏ về nhà mẹ đẻ ở. Anh chị đã ly thân với nhau từ tháng 12/2021 cho tới nay. Nay anh H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nếu tiếp tục gặp nhau thì thường xuyên xảy ra xô xát, cãi vã, không thể chung sống nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Th. Chị Th đề nghị Tòa án cho thêm thời gian để hàn gắn tình cảm vợ chồng và không đồng ý ly hôn với anh H, Trong quá trình hòa giải và sau khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tạo điều kiện về thời gian để chị Th thực hiện các biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đều không có hiệu quả.

HĐXX nhận thấy, mâu thuẫn giữa anh H và chị Th đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy yêu cầu xin ly hôn của anh H là có căn cứ nên cần chấp nhận, giải quyết cho anh H và chị Th ly hôn.

Về con chung: Anh H, chị Th không có con chung.

Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Không có.

Về án phí: Anh H thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí ly hôn

các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51; Điều 56; 57 của Luật Hôn nhân gia đình; Điều 28, 35, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Khuất Phi H. Anh Khuất Phi H được ly hôn chị Vũ Thị Th

Quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị Th chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung, công sức nợ chung: Không có

4. Về án phí: Anh Khuất Phi H được miễn án phí ly hôn.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ