- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thanh T - Hồ Thị Thanh N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T về việc “Tranh chấp xác định cha cho con” đối với bà Hồ Thị Thanh N.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2020/HNGĐ-ST Ngày 08 - 9 - 2020 V/v “Tranh chấp xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tán Nghị
Bà Lê Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên toà: Ông Trương Công Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2020/QĐXXST-DS ngày 26.8.2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1991; trú tại: Tổ 3, thôn A, xã Hòa T, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Hồ Thị Thanh N, sinh năm 1995; trú tại: Tổ 8, thôn M, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày:
Năm 2014 ông có quen bà Hồ Thị Thanh N và chung sống như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn nhưng có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục truyền thống. Ông và bà N sống với nhau tại nhà ông, trước khi sinh con thì bà N đã về nhà bà N sinh con nhưng chưa xin phép ông và gia đình ông. Sau đó, bà N đã sinh được 1 cháu Hồ Thị Uyển N, sinh ngày 10.12.2014. Vì ông và bà N không có đăng ký kết hôn nên bà N đã làm giấy khai sinh cho cháu N mang họ mẹ. Sau khi sinh con được 2 tháng ông có nhiều lần xin đón 2 mẹ con về nhà ông ở nhưng bà N không về nên ông đã bồng con về nuôi. Sau khi bồng con về nuôi ông đã nhiều lần xuống nhà bà y, khuyên về nhưng bà N không về nên đến nay ông đã nuôi cháu N được gần 6 tuổi và chuẩn bị vào lớp 1.
Ông đồng ý và không có ý kiến gì đối với Kết luận giám định ADN ngày 28.7.2020 của Phân viện khoa học hình sự tại TP. Đà Nẵng - Viện khoa học hình sự Bộ Công an.
Nay ông Nguyễn Thanh T yêu cầu Tòa án xác nhận cháu Hồ Thị Uyển N, sinh ngày 10.12.2014 là con ruột của ông để ông có thể thay đổi họ cho cháu N mang họ của ông, nhập khẩu vào gia đình ông và cho cháu đi học.
* Trong bản tự khai, đơn yêu cầu phản tố ngày 20.7.2020, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh N trình bày:
Ông Nguyễn Thanh T yêu cầu xác định cháu Hồ Thị Uyển N, sinh ngày 10.12.2014 là con ruột của ông T thì bà không đồng ý và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu N. Đồng thời, hiện nay ông T đang là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N nhưng trong suốt quá trình nuôi dưỡng cháu thì ông T đã có những hành vi và đưa ra những căn cứ không phù hợp. Nay, bà xét thấy việc ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N là không hợp lý bởi những lý do sau:
Bà và ông Nguyễn Thanh T có quen biết, phát sinh tình cảm và chung sống với nhau tại nhà ông T nhưng không đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa bà và ông T hay phát sinh mâu thuẫn, ông T thường xuyên uống rượu bia và say xỉn từ sáng đến tối, liên tục dùng những lời lẽ không hay để xúc phạm và đánh đập bà. Ông T đối xử tệ bạc với bà khi bà mang thai. Trước khi sinh cháu N thì bà về nhà ba mẹ ruột ở, sinh con đầy 1 tháng thì ông T xuống nhà chửi bà, bắt cháu N về nuôi tại nhà ông T. Lúc đó do sức khỏe bà yếu nên không thể kháng cự lại được, bà rất đau buồn khi vừa sinh con xong lại mất con nhưng đành chịu. Thời gian sau một mình bà đã làm các thủ tục đăng ký khai sinh và hộ khẩu thường trú cho con là Hồ Thị Uyển N, sinh ngày 10.12.2014; trú tại: Tổ 8, thôn M, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Hiện nay, công việc của bà ổn định, muốn chăm sóc giáo dục con, cháu N là con gái, rồi sẽ đến giai đoạn cháu bước vào tuổi dậy thì, tâm sinh lý có sự biến chuyển mạnh nên hơn ai hết là một người mẹ, bà sẽ là người phù hợp nhất để thấu hiểu, chăm sóc, giáo dục con gái trong giai đoạn này. Việc để con ở với ông T sẽ không đảm bảo điều kiện để cháu có thể san sẻ, tâm sự về những chuyển biến trong tâm sinh lý của cháu. Vấn đề con gái trong những giai đoạn này thật sự cần thiết nên sống cùng mẹ để được phát triển tốt toàn diện hơn.
Vì vậy, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T và bà có yêu cầu phản tố là đề nghị Tòa án giao cháu Hồ Thị Uyển i, sinh ngày 10.12.2014; địa chỉ: Tổ 3, thôn A, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng; HKTT: Tổ 8, thôn M, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Tùng cấp dưỡng nuôi con.
Bà không có ý kiến gì đối với Kết luận giám định ADN ngày 28.7.2020 của Phân viện khoa học hình sự tại TP. Đà Nẵng - Viện khoa học hình sự Bộ Công an.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng đã xác định: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đối với nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên ông Nguyễn Thanh T là cha đẻ của cháu Hồ Thị Uyển N, sinh ngày 10.12.2014; ông Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp xác định cha cho con” giữa ông Nguyễn Thanh T và bà Hồ Thị Thanh y, cư trú tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang theo quy định tại khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
Năm 2014 ông Nguyễn Thanh T và bà Hồ Thị Thanh N quen biết và chung sống như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn nhưng có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục truyền thống và sống với nhau tại nhà ông T. Trước khi sinh con Hồ Thị Uyển N thì bà N đã về nhà bà N nhưng chưa xin phép ông và gia đình ông. Sau đó, bà N đã sinh cháu Hồ Thị Uyển N, sinh ngày 10.12.2014. Sau khi sinh cháu N được 2 tháng ông T có nhiều lần xin đón 2 mẹ con bà N về nhà nhưng bà N không về nên ông T đã bồng cháu N về nuôi. Sau khi bồng cháu N về nuôi ông T đã nhiều lần xuống nhà bà N, khuyên về nhưng bà N không về nên đến nay ông T đã nuôi cháu N đã được gần 6 tuổi và chuẩn bị vào lớp 1. Do ông T và bà N không có đăng ký kết hôn nên bà N đã làm giấy khai sinh cho cháu N mang họ bà N và để trống phần cha nên để đảm bảo quyền lợi của cháu N thì ông T yêu cầu Tòa án xác định ông là cha của cháu N.
Theo Kết luận giám định ADN ngày 28.7.2020 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng - Viện khoa học hình sự Bộ Công an thì: Hồ Thị Uyển N là con đẻ của Hồ Thị Thanh N và Nguyễn Thanh T. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T là chính đáng, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 88, Điều 89, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bà Hồ Thị Thanh N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T và bà N có đơn yêu cầu phản tố là đề nghị Tòa án giao cháu Hồ Thị Uyển N, sinh ngày 10.12.2014; địa chỉ: Tổ 3, thôn A, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng; HKTT: Tổ 8, thôn M, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà N đồng ý ông T là cha cháu N với điều kiện bà được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là quan hệ tranh chấp xác định cha, mẹ cho con còn yêu cầu nêu trên của bà N không được thụ lý, giải quyết trong cùng vụ án này vì là tranh chấp một quan hệ pháp luật khác. Do đó, khi có yêu cầu của bà N sẽ được xem xét, giải quyết trong một vụ án khác.
Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Thanh T không phải chịu.
Theo những nhận định như trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 88, 89, 91, 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T về việc “Tranh chấp xác định cha cho con” đối với bà Hồ Thị Thanh N.
2. Xử: Ông Nguyễn Thanh T là cha đẻ của cháu Hồ Thị Uyển N, sinh ngày 10.12.2014.
Quyền và nghĩa vụ đối với con chung, các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Về chi phí giám định: Chi phí giám định ADN là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) ông Nguyễn Thanh T ứng án phí tự nguyện chịu (đã nộp cho cơ quan giám định và chi phí xong).
4. Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh T số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0000257 ngày 10.6.2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng.
Án xử công khai, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 08.9.2020.
Trong trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Hòa Vang; - Chi cục THADS huyện Hòa Vang; - UBND xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (Giấy khai sinh số 281/2015 ngày 14.12.2015); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Diệp |