- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Đỗ Thị M về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với chị Đỗ Thị Kim H.
- Căn cứ chính? Điều 19 Bộ luật Dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – TP HÀ NỘI ------***------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 19/2019/QĐST-VDS | Hai Bà Trưng, ngày 24 tháng 10 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Hoàng Lan Chi
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng tham gia phiên họp: BàVũ Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 24/10/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 108/2019/TLST-VDS ngày 17/9/2019 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo Quyết định mở phiên họp số 28/2019/QĐ-MPH ngày 10/10/2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Đỗ Thị M – Sinh năm: 198X; Hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 5 Ngách 4A/2 phố Đ, phường P, quận Đ, Hà Nội. (Có mặt).
Đối với: Chị Đỗ Thị Kim H - Sinh năm: 197X; Hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 37 phố B, phường C, quận H, Hà Nội. (Vắng mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Đỗ Xuân T - Sinh năm: 194X; Hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 37 phố B, phường C, quận H, Hà Nội. (Xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai, người yêu cầu giải quyết việc dân sự - chị Đỗ Thị M trình bày:
Bố mẹ đẻ chị là ông Đỗ Xuân T và bà Vũ Thị Kim B kết hôn năm 197X. Bà B đã mất ngày 26.7.201X. Bố mẹ chị có ba người con chung là: Đỗ Xuân H – Sinh năm: 197X (Đã mất năm 200X), Đỗ Thị Kim H – Sinh năm: 197X và Đỗ Thị M – Sinh năm: 198X. Ngoài ra, bố mẹ chị không có con riêng, con nuôi nào khác.
Chị gái chị là Đỗ Thị Kim H bị chậm phát triển tâm thần, bị câm điếc bẩm sinh, thị lực kém, đi lại rất khó khăn, vận động kém, không tiếp xúc được, không có khả năng lao động, không tự chăm sóc được bản thân, mọi sinh hoạt cá nhân hàng ngày phải phụ thuộc hoàn toàn vào người thân trong gia đình. Chị H không có chồng con và hiện nay đang sống cùng bố đẻ. Từ khi mẹ các chị mất, bệnh tình của chị H nặng hơn, không ngủ, không ăn, không chịu vệ sinh cá nhân, mọi sinh hoạt trong cuộc sống của chị H chủ yếu do bố đẻ chăm sóc, phục vụ, thỉnh thoảng có chị là em gái chị M hỗ trợ chăm sóc. Tình trạng sức khỏe, bệnh tật của chị H đã được cấp Giấy xác nhận bệnh tật người nhiễm chất độc hóa học của Phòng khám đa khoa M – Trung tâm y tế quận H ngày 07.4.2004 và Giấy xác nhận tình trạng dị dạng dị tật của con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học của Trạm y tế phường C ngày 01.10.2006. Từ khi chị H còn nhỏ, bố mẹ chị đã đưa chị H đi khám chữa bệnh ở nhiều nơi nhưng không có kết quả. Đầu tháng 9.2019, gia đình chị đã đưa chị H vào điều trị tại Viện sức khỏe tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai. Theo tóm tắt Hồ sơ bệnh án của Bệnh viện đã xác nhận và kết luận: Chị H chậm phát triển tâm thần nghiêm trọng với tật chứng hành vi cần điều trị.
Vì vậy, chị yêu cầu TAND quận Hai Bà Trưng giải quyết việc dân sự tuyên bố chị Đỗ Thị Kim H mất năng lực hành vi dân sự và đề nghị Tòa án xác định ông Đỗ Xuân T – bố đẻ chị H là người giám hộ của chị H. Ngoài ra chị không có yêu cầu nào khác.
Tại bản tự khai, ông Đỗ Xuân T trình bày:
Ông thống nhất với nội dung trình bày của chị M, nhất trí với yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị M về việc tuyên bố chị Đỗ Thị Kim H mất năng lực hành vi dân sự, đề nghị Tòa án xác định ông là người giám hộ của chị H, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết, tại các buổi làm việc và phiên họp giải quyết việc dân sự này. Ông giữ nguyên các ý kiến đã trình bày, ngoài ra ông không có ý kiến, yêu cầu nào khác.
Tại phiên họp:
Chị Đỗ Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố chị Đỗ Thị Kim H mất năng lực hành vi dân sự và đề nghị Tòa án xác định ông Đỗ Xuân T là người giám hộ cho chị H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng phát biểu ý kiến: Về tố tụng, quá trình giải quyết việc dân sự: Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý việc dân sự, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng. Về thu thập chứng cứ và thời hạn chuẩn bị mở phiên họp, Toà án ra Quyết định trưng cầu giám định sức khoẻ tâm thần đối với chị H là đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, thời hạn mở phiên họp đúng thời hạn. Về cấp tống đạt văn bản tố tụng, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định. Về nội dung: Xét đơn yêu cầu của chị Đỗ Thị M là có căn cứ, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của chị M và ra Quyết định tuyên bố chị Đỗ Thị Kim H mất năng lực hành vi dân sự và xác định ông Đỗ Xuân T là người giám hộ của chị H. Chị M phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng nhận định:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, chị Đỗ Thị M yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với: Chị Đỗ Thị Kim H - Sinh năm: 197X; Hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 37 phố B, phường C, quận H, Hà Nội. Vì vậy, xác định quan hệ pháp luật là yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về quyền yêu cầu:
Bố mẹ đẻ chị Đỗ Thị Kim H là ông Đỗ Xuân T và bà Vũ Thị Kim B. Bà B chết ngày 26/7/201X, chị H không có chồng, con. Chị Đỗ Thị M là em gái chị H yêu cầu tuyên bố chị H mất năng lực hành vi dân sự và xác định ông T – bố đẻ chị H là người giám hộ cho chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 53 Bộ luật Dân sự năm 2015.
. Về nội dung:
Chị Đỗ Thị Kim H bị chậm phát triển tâm thần, bị câm điếc bẩm sinh, thị lực kém, đi lại rất khó khăn, vận động kém, không tiếp xúc được, không có khả năng lao động, không tự chăm sóc được bản thân, mọi sinh hoạt cá nhân hàng ngày phải phụ thuộc hoàn toàn vào người thân trong gia đình. Từ nhỏ gia đình đã đưa chị H đi chữa bệnh ở nhiều nơi nhưng không có kết quả. Chị H đã được Phòng khám đa khoa M – Trung tâm y tế quận H cấp Giấy xác nhận bệnh tật người nhiễm chất độc hóa học ngày 07.4.2004 và Trạm y tế phường C cấp Giấy xác nhận tình trạng dị dạng dị tật của con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học ngày 01.10.2006. Đầu tháng 9.2019, gia đình đã đưa chị H vào điều trị tại Viện sức khỏe tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai. Theo tóm tắt Hồ sơ bệnh án của Bệnh viện đã xác nhận và kết luận: Chị H chậm phát triển tâm thần nghiêm trọng với tật chứng hành vi cần điều trị.
Ngày 20/9/2019, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 30/2019/QĐ-TA, trưng cầu Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 giám định sức khỏe tâm thần đối với chị Đỗ Thị Kim H.
Tại Kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 230/KHTH-BV ngày 01/10/2019 và Biên bản giám định sức khỏe tâm thần số 229/KHTH-BV ngày 01/10/2019 của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 đã kết luận: Chị Đỗ Thị Kim H bị chậm phát triển tâm thần mức độ trầm trọng (mã bệnh theo ICD 10: F73), hiện tại mất năng lực hành vi dân sự.
Vì vậy, đối với yêu cầu của chị Đỗ Thị M về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Đỗ Thị Kim H mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
Về việc người giám hộ cho chị H: Ông Đỗ Xuân T – là bố đẻ của chị H có đủ các điều kiện của cá nhân làm người giám hộ theo quy định tại Điều 49 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, xác định ông T là người giám hộ của chị Đỗ Thị Kim H là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 53 Bộ luật dân sự năm 2015.
. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Đỗ Thị M phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, các Điều 362, 369, 370, 371, 372, khoản 1 Điều 376, Điều 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 19, Điều 22, Điều 49, khoản 3 Điều 53, Điều 57, Điều 58 Bộ luật Dân sự năm 2015;
-Căn cứ khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 mục I Phần B của Danh mục án phí, lệ phí Toà án (Ban hành kèm theo Nghị quyết).
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Đỗ Thị M về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với chị Đỗ Thị Kim H.
Tuyên bố: Chị Đỗ Thị Kim H (Sinh năm: 197X; Hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 37 phố B, phường C, quận H, Hà Nội) mất năng lực hành vi dân sự.
2. Ông Đỗ Xuân T (Sinh năm: 194X; Hộ khẩu thường trú và trú tại: Số 37 phố B, phường C, quận H, Hà Nội) là người giám hộ của chị Đỗ Thị Kim H.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự:
Chị Đỗ Thị M phải chịu số tiền 300.000 đồng lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Biên lai số AA/2017/0002807 ngày 17.9.2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Hai Bà Trưng, Thành Phố Hà Nội.
Chị Đỗ Thị M có mặt, ông Đỗ Xuân T vắng mặt tại phiên họp. Chị M có quyền kháng cáo Quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Ông T có quyền kháng cáo Quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được niêm yết theo thủ tục pháp luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Nơi gửi:
| - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND Q.Hai Bà Trưng; - Chi cục THADS Q.Hai Bà Trưng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Hoàng Lan Chi |