vanban.org

Quyết định 19/2019/QĐST-HNG — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Trần Việt H.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Việt H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, thành phố H ngày 06/01/2016. Trước khi kết hôn anh T và chị H chưa ai có vợ có chồng. Nay anh T và chị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh T xin ly hôn chị H"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Trần Việt H.
  • Căn cứ chính? Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
Toµ!¸n!nh©n!d©n!quËn!®èng!®a!
Thµnh!phè!hµ!néi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:19 /2019/QĐST-HNG
ngày 11/01/2019 về việc “tranh chấp Ly hôn”, giữa:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981
Hộ khẩu thường trú: Cụm 6, xã V, huyện T, thành phố H.
- Bị đơn: Chị Trần Việt H, sinh năm 1992
số 79 (cũ 69) ngõ Thổ Quan, phường Q, quận Đ, thành phố H).
Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
giải thành ngày 24/01/2019 về việc các đương sự đã thật sự tự nguyện ly hôn và thoả
thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án về Hôn nhân và gia đình thụ lý
số 38/2019/TLST-HNGĐ ngày 11/01/2019 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Đống Đa, ngày 01 tháng 02 năm 2019

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 24/01/2019 là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

1

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Trần Việt H.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Việt H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, thành phố H ngày 06/01/2016. Trước khi kết hôn anh T và chị H chưa ai có vợ có chồng. Nay anh T và chị H cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án công nhận anh chị thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Anh Nguyễn Văn Tvà chị Trần Việt H có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh Q (giới tính nam), sinh ngày 7 tháng 6 năm 2015. Ly hôn, ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận của anh T và chị H: Giao cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh Q; anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 (Hai triệu) đồng/01 tháng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung được thực hiện từ tháng 02 năm 2019 cho đến khi con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền thay thế.

Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung và nhà ở chung (động sản và bất động sản): Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Việt H xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Tòa không xét.

- Về nợ: Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Việt H xác nhận không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xét.

- Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn T chịu cả 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng anh T đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008186 ngày 10/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (anh Tđã nộp đủ). Anh T còn phải chịu 150.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con (chưa nộp).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ