- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Dương Ngọc D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trần Thị A.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 1878/2023/QĐST-DS Ngày: 25/9/2023 V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết. | Bình Thạnh, ngày 25 tháng 9 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thiện Liên Hương
Thư ký phiên họp: Ông Trần Xuân Trường
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Đặng Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 0525/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2023 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 597/2023/QĐST-VDS ngày 14 tháng 9 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị A, sinh năm: 1955
Địa chỉ: 463E, phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Diễm B (Giấy ủy quyền số công chứng 3798, quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 17/3/2022 tại Văn phòng Công chứng Bình Thạnh).
Địa chỉ: 17/16C, phường K, thành phố L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Dương Ngọc C, sinh năm: 1990
Địa chỉ: 463E, PB 17, phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Người yêu cầu bà Trần Thị A có bà Nguyễn Thị Diễm B là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà Trần Thị A, sinh năm 1955 và ông Dương Văn H, sinh năm 1930 là vợ chồng theo giấy chứng nhận kết hôn số 18/TP do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 14/5/1991. Ông Dương Văn H chết ngày 31/10/2016. Bà A và ông H có 02 con chung là Dương Ngọc D, sinh năm 1988 và Dương Ngọc C, sinh năm 1990.
Năm 2015, bà D bỏ nhà đi và hoàn toàn mất liên lạc cho đến nay. Gia đình đã đăng báo tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức gì. Theo yêu cầu của bà A và căn cứ vào quy định của pháp luật, ngày 08/01/2020, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã ban hành quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích số 24/2020/QĐST-DS tuyên bố bà Dương Ngọc D, sinh năm 1988, địa chỉ cư trú cuối cùng số 144/29 P, phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là mất tích.
Sau 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích nêu trên có hiệu lực cho đến nay, bà A và gia đình vẫn không có tin tức xác thực về việc bà D còn sống. Nay bà Trần Thị A yêu cầu Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh tuyên bố bà Dương Ngọc D, sinh năm 1988, địa chỉ cư trú cuối cùng số 144/29 P, phường X, quận Y, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết để bổ túc hồ sơ pháp lý.
Bà Dương Ngọc C đồng ý với yêu cầu của bà Trần Thị A, đề nghị Tòa án tuyên bố bà Dương Ngọc D, sinh năm 1988 là đã chết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật của Thư ký phiên họp: Thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia phiên họp: Chấp hành đúng nội quy phiên họp.
2. Về nội dung: Yêu cầu của bà Trần Thị A tuyên bố bà Dương Ngọc D là đã chết là có cơ sở được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự năm 2015, nên đề nghị Tòa án chấp nhận. Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích số 24/2020/QĐST-DS ngày 08/01/2020 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh có hiệu lực pháp luật ngày 24/01/2020 nên ngày chết của bà Dương Ngọc D được xác định là ngày 25/01/2023. Bà Trần Thị A được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về quan hệ và thẩm quyền giải quyết:
Bà Trần Thị A có đơn yêu cầu tuyên bố con gái bà là bà Dương Ngọc D, sinh năm 1988 là đã chết. Đây là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do bà D có nơi cư trú cuối cùng tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
Người yêu cầu là bà Trần Thị A có đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Diễm B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Dương Ngọc C có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự. Căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự nêu trên.
Về nội dung:
Căn cứ vào Bản sao Giấy khai sinh số V, quyển số B ngày 11/9/1991 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp có cơ sở xác định bà Dương Ngọc D là con của bà Trần Thị A là người có quyền, lợi ích liên quan, được quyền yêu cầu tuyên bố bà D là đã chết theo quy định Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015.
Theo lời khai của bà Trần Thị A có bà Nguyễn Thị Diễm B là đại diện theo ủy quyền thì năm 2015, bà D bỏ nhà đi và hoàn toàn mất liên lạc cho đến nay. Gia đình đã đăng báo tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức gì. Sau 03 năm kể từ ngày quyết sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích số 24/2020/QĐST-DS tuyên bố bà Dương Ngọc D, sinh năm 1988, địa chỉ cư trú cuối cùng số 144/29 P, phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là mất tích có hiệu lực cho đến nay, bà A và gia đình vẫn không có tin tức xác thực về việc bà D còn sống.
Căn cứ kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh thì Dương Ngọc D, sinh năm 1988 đã bị xóa hộ khẩu thường trú tại địa chỉ 144/29 P, phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 13/02/2020 đến nay (xóa do mất tích). Trong thời gian bị xóa hộ khẩu thường trú, bà Dương Ngọc D không thực tế cư trú tại địa phương, hiện không rõ địa chỉ cư trú.
Tại khoản 2 Điều 282 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Đối chiếu với trường hợp này, Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích số 24/2020/QĐST-DS ngày 08/01/2020 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên có hiệu lực pháp luật ngày 24/01/2020. Như vậy, sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là bà D còn sống mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị A về việc tuyên bố bà Dương Ngọc D, sinh năm 1988, địa chỉ cư trú cuối cùng số 144/29 P, phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.
Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích số 24/2020/QĐST-DS ngày 08/01/2020 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh có hiệu lực pháp luật ngày 24/01/2020 nên căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 148 Bộ luật dân sự 2015 thì ngày chết pháp lý của bà Dương Ngọc D được xác định là ngày 25/01/2023.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 12, Điều 14, Điều 16 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban TB vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Trần Thị A thuộc trường hợp được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 48, Điều 67, khoản 2 Điều 282, Điều 361, khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 393 của Bộ Luật tố tụng dân năm 2015;
Căn cứ vào Điều 71, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 12, Điều 14, Điều 16 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tB vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trần Thị A.
Tuyên bố bà Dương Ngọc D, sinh năm 1988, nơi cư trú cuối cùng tại số 144/29 P, phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Ngày chết của bà Dương Ngọc D được xác định là ngày 25/01/2023.
2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố bà Dương Ngọc D là đã chết.
2.1. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.
2.2. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế.
Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị A được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Q.Y ; - Chi cục THADS Q.Y; - UBND P.X Q.Y; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thiện Liên Hương |