- Tranh chấp gì? "Người bị đề nghị Bùi Đức T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Đức T.
- Căn cứ chính? Nghị định số 57/2022/NĐ-CP Quy định các danh mục chất ma túy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 12 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 186/2025/QĐ-TA | H, ngày 11 tháng 3 năm 2025. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Huy.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nội Thị Hảo.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm - Phòng mở phiên họp của Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần - Cơ sở cai nghiện ma túy N, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Cơ sở cai nghiện ma túy M Thành phố Hồ Chí Minh) tiến hành mở phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 154/QĐ-TA ngày 03 tháng 3 năm 2025, trong đó:
- Điểm cầu trung tâm: Số K đường Q, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Trụ sở Toà án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Điểm cầu thành phần: Số E đường Đ, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Phòng họp trực tuyến – Cơ sở cai nghiện ma túy N nay là Cơ sở cai nghiện ma túy M Thành phố Hồ Chí Minh), đối với:
Họ và tên: Bùi Đức T
Giới tính: Nam
Sinh ngày 26 tháng 12 năm 1989; Căn cước công dân số: 031089016472; ngày cấp: 25/5/2023.
Dân tộc: kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: 12/12
Nguyên quán: Hải Phòng.
Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện A, Hải Phòng.
Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định
Nghề nghiệp: Không
Tiền án: không; tiền sự: không.
Con ông Bùi Văn Q, sinh năm: 1963 và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1971.
Có mặt tại điểm cầu thành phần.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Công an xã Đ, huyện H là cơ quan tiếp nhận nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Thanh Vũ – Người đại diện theo ủy quyền của Công an xã Đ, huyện H (theo giấy ủy quyền số 03/CAXTĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 của Công an xã Đ).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Bùi Thị Tâm - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 20/12/2024, tại địa bàn xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an xã Đ tiến hành kiểm tra, phát hiện và xác định ông Bùi Đức T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; nên tạm giữ, làm rõ, qua xét nghiệm nhanh nước tiểu của ông Bùi Đức T thì dương tính với chất ma túy; ngày 20/12/2024, Công an xã Đ lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội đối với ông Bùi Đức T.
Theo ông Bùi Đức T trình bày: Bản thân thừa nhận có sử dụng ma túy và thừa nhận kết quả xét nghiệm chất ma túy là của mình, sau đó bị lực lượng Công an kiểm tra, tạm giữ như đã nêu trên; về tình trạng cư trú: khai hiện không có nơi cư trú ổn định.
Công an xã Đ đã tiến hành xác minh về tình trạng cư trú của ông Bùi Đức T, như sau: tại Phiếu trả lời xác minh tình trạng cư trú của Công an xã T, huyện A, Hải Phòng xác nhận ông Bùi Đức T có hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng không có mặt địa phương từ tháng 2021 đến nay.
Ngày 25/12/2024, Công an xã Đ đã đưa ông Bùi Đức T vào trung tâm tiếp nhận đối tượng xã hội N1 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy ngày 23/12/2024 của Bác sỹ (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở cai nghiện ma túy N) xác định: ông Bùi Đức T nghiện ma túy, tên loại ma túy là chất dạng Amphetamine.
Ngày 25/12/2024, Công an xã Đ tiến hành lập biên bản về việc thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện và yêu cầu ông Bùi Đức T thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Tuy nhiên, ông Bùi Đức T trình bày ý kiến là không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy nên ngày 25/12/2024, ông Bùi Đức T bị Ủy ban nhân dân xã Đ lập Biên bản vi phạm hành chính về việc không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.
Ngày 25/12/2024, Ủy ban nhân dân xã Đ ra Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Đức T.
Ngày 30/12/2024, Ủy ban nhân dân xã Đ có công văn đề nghị xem xét hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Đức T.
Tại văn bản đề nghị số 526/ĐN-CNBB ngày 26/02/2025, Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Đức T.
Tại phiên họp,
Ông Nguyễn Thanh Vũ là người đại diện của Công an xã Đ cho rằng ông Bùi Đức T là người nghiện ma túy, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và không có nơi cư trú ổn định nên thuộc diện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định và đề nghị đưa ông Bùi Đức T cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy M Thành phố Hồ Chí Minh với thời gian từ 12 tháng đến 24 tháng.
Người bị đề nghị ông Bùi Đức T đã thừa nhận hành vi vi phạm trên và đồng ý với nội dung đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Tòa án đã tiến hành đúng trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.
- Về đề nghị xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: đề nghị Tòa án chấp nhận áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Đức T theo đề nghị của Công an xã Đ.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp và qua kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của cơ quan đề nghị và của người bị đề nghị, Tòa án nhân dân huyện H nhận định:
* Về thẩm quyền giải quyết:
Qua xem xét hồ sơ, do cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Đức T là Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; xét cơ quan đề nghị có trụ sở tại địa bàn huyện H nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
* Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính:
Ngày 20/12/2024, cơ quan Công an phát hiện hành vi vi phạm của ông Bùi Đức T; ngày 26/02/2025, Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Đức T. Như vậy, căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu xử lý vi phạm hành chính này vẫn còn trong thời hạn 03 tháng.
* Về nội dung đề nghị:
Về quốc tịch và độ tuổi: Qua các tài liệu thu thập được, có cơ sở xác định ông Bùi Đức T là công dân Việt Nam, sinh năm 1989, tức trên 18 tuổi.
Về tình trạng cư trú của ông Bùi Đức T: Công an xã Đ đã tiến hành xác minh về tình trạng cư trú của ông Bùi Đức T, như sau: ông Bùi Đức T thuộc trường hợp không có nơi cư trú ổn định; tại phiên họp, ông Bùi Đức T cho rằng bản thân không có nơi cư trú ổn định. Do vậy, căn cứ vào chứng cứ thu thập được có cơ sở xác định ông Bùi Đức T thuộc trường hợp không có nơi cư trú ổn định, nên việc xác định tình trạng nghiện ma túy đối với ông Bùi Đức T là đúng theo quy định tại Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy.
Về tình trạng nghiện ma túy: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính ngày 20/12/2024 do Công an xã Đ lập về việc có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phù hợp với biên bản lấy lời khai vụ việc vi phạm hành chính (tất cả đều có xác nhận của ông Bùi Đức T), bản tường trình của ông Bùi Đức T (do ông Bùi Đức T trình bày), biên bản xét nghiệm nước tiểu của Trạm Y tế xã Đ, kết quả test nhanh ông Bùi Đức T dương tính với chất ma túy (có xác nhận của ông Bùi Đức T) có cơ sở xác định ông Bùi Đức T có sử dụng chất ma túy; đồng thời tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy ngày 23/12/2024 của Bác sỹ (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở cai nghiện ma túy N) xác định: ông Bùi Đức T nghiện ma túy, tên loại ma túy là chất dạng Amphetamine, xét thấy Bác sỹ (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở cai nghiện ma túy N) có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện theo quy định tại Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy và Điều 8 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; do vậy căn cứ vào khoản 16 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính và những nội dung nhận định trên, có cơ sở xác định Phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy ngày 23/12/2024 của Bác sỹ (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở cai nghiện ma túy N) xác định: ông Bùi Đức T nghiện ma túy, tên loại ma túy là chất dạng Amphetamine là có cơ sở (chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ thì đó là chất ma túy).
Ngoài ra, ông Bùi Đức T không thuộc trường hợp không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Do vậy, đã có đủ cơ sở kết luận ông Bùi Đức T là người nghiện ma túy, trên 18 tuổi và không thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 49 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
Về nhân thân, ông Bùi Đức T không có tiền án; không có tiền sự (căn cứ theo trích lục tiền án, tiền sự số 49513/PV06 ngày 18/02/2025 của Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Thành phố Hồ Chí Minh).
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thật sự thành thật hối lỗi; đó là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính, mà trong lời đề nghị của đại diện Công an cũng có nêu.
Từ đó cho thấy, đề nghị trên của Công an xã Đ, huyện H là có căn cứ, đúng pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Tình trạng sử dụng ma túy hiện nay đang là tệ nạn của xã hội, nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm, gây mất an ninh, trật tự. Người sử dụng ma túy sẽ bị nghiện và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Việc đưa ông Bùi Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để cắt cơn, giải độc và cai nghiện ma túy là chính sách nhân đạo của pháp luật Việt Nam nhằm tạo điều kiện cho ông Bùi Đức T là một người bệnh được chữa bệnh, đồng thời học tập phấn đấu để sau này trở thành người tốt hơn, có ích cho gia đình và xã hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 9; Điều 96; Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020;
Căn cứ Điều 27 và Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;
Căn cứ vào Điều 3, Điều 9, Điều 12, Điều 21, Điều 22, Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ Điều 3, Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43, Điều 44, Điều 45, Điều 46, Điều 47 và Điều 48 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Căn cứ vào Điều 8 và Điều 16 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao;
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Đức T.
Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở cai nghiện ma túy M Thành phố Hồ Chí Minh (Đang quản lý người nghiện ma túy).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày 20/12/2024.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan biết.
3. Ông Bùi Đức T được quyền khiếu nại, Công an xã Đ được quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện H được quyền kháng nghị đối với Quyết định trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành Quyết định: Công an xã Đ; Cơ sở cai nghiện ma túy M Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND H.H; - PV06 – CATP.HCM; - UBND xã Đ; - Công an xã Đ; - Cơ sở CNMT M TP.HCM; - Ông Bùi Đức T; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Văn Huy |