- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
- Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020);
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN TỈNH TN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 184/2024/QĐ-TA | TP. TN, ngày 17 tháng 10 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thu Huệ
- Thư ký phiên họp: Bà Vi Phương Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN.
Ngày 17 tháng 10 năm 2024, tại Cơ sở Cai nghiện đa chức năng tỉnh TN tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 170/2024/QĐ-TA ngày 09 tháng 10 năm 2024, đối với:
Họ và tên: Nông Văn T, sinh ngày 04 tháng 6 năm 1983
Nơi cư trú: Tổ 5, phường T.L, thành phố TN, tỉnh TN. Dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Tự do. Con ông Nông Thanh L, con bà Tạ Thị Th (đều đã chết).
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 01/8/2022 Toà án nhân dân thành phố TN ra quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 42/2022/QĐ-TA đối với Nông Văn T thời gian 15 tháng (Đã chấp hành xong và được quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú bằng Quyết định số 132/QĐ-UBND ngày 25/12/2023 của Chủ tịch UBND phường T.L, thành phố TN).
(Anh T có mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Ngọc Tân, chức vụ: Phó trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố TN, tỉnh TN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo tài liệu có trong hồ sơ đề nghị, tại bản tường trình, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp, Nông Văn T xác định: Bản thân T là người nghiện ma túy, phải lệ thuộc vào chất ma túy từ năm 2019, loại ma túy sử dụng là Heroin, hình thức sử dụng là chích. Ngày 01/8/2022 T đã bị Toà án nhân dân thành phố TN áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng, chấp hành xong ngày 21/12/2023. Ngày 25/12/2023 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường T.L đã ban hành Quyết định số 132/QĐ-UBND về việc quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú đối với T. Ngày 14/9/2024 T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý Ngày 15/9/2024 Công an phường T.L đã phối hợp cùng Trạm y tế phường T.L kiểm tra chất ma tuý trong cơ thể của T, kết quả Dương tính với MOP.
Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 19/9/2024 của Cơ sở Cai nghiện Đa chức năng tỉnh TN xác định Nông Văn T có nghiện ma tuý loại Heroin.
Ngày 25/9/2024 Công an phường T.L, thành phố TN đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Nông Văn T, đồng thời lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T, giao T cho Cơ sở Cai nghiện Đa chức năng tỉnh TN quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do gia đình T từ chối quản lý.
Công văn số: 659/ĐN - CNBB, ngày 04/10/2024 của Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố TN, tỉnh TN đề nghị Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T tại Cơ sở Cai nghiện Đa chức năng tỉnh TN.
Tại phiên họp:
- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố TN, tỉnh TN vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án nhân dân thành phố TN xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TN đối với Nông Văn T với thời gian từ 18 đến 21 tháng.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN:
Việc lập hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố TN về việc đưa Nông Văn T vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TN là đúng quy định của pháp luật và phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, thành phần hồ sơ đã đầy đủ các tài liệu quy định tại Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: kể từ khi thụ lý hồ sơ đến khi mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, Toà án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục và thời hạn quy định tại Điều 105, Điều 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thưởng vụ Quốc hội, quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T, nhất trí quan điểm của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố TN, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố TN áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T với thời gian từ 18 đến 21 tháng.
- Ý kiến của người bị đề nghị Nông Văn T: Việc cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hoàn toàn đúng. Bản thân T là người nghiện ma túy từ năm 2019, đã bị Toà án nhân dân thành phố TN áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng sau khi chấp hành xong, T vẫn tiếp tục sử dụng ma tuý. Quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, T đã được thông báo về việc lập hồ sơ và đọc hồ sơ. T nhất trí và xin Tòa án xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc với thời hạn ngắn nhất.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có tại hồ sơ đề nghị và ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, cơ quan lập hồ sơ và Kiểm sát viên tham gia phiên họp thấy:
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trinh tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc để nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN.
Về thời hiệu: Ngày 15/9/2024 Công an phường T.L, thành phố TN phối hợp với Trạm y tế phường T.L, thành phố TN thực hiện kiểm tra chất ma túy đối với Nông Văn T là đối tượng đang được quản lý sau cai nghiện tại địa phương theo quyết định của Chủ tịch UBND phường, kết quả kiểm tra T dương tính đối với chất ma túy. T xác định lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 14/9/2024. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố TN đối với Nông Văn T vẫn trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 96, Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhận thấy:
Nông Văn T là người nghiện ma túy, phải lệ thuộc vào chất ma túy từ năm 2019, loại ma túy sử dụng là Heroin, hình thức sử dụng là chích. Ngày 01/8/2022 T đã bị Toà án nhân dân thành phố TN áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng, chấp hành xong ngày 21/12/2023. Ngày 25/12/2023 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường T.L đã ban hành Quyết định số 132/QĐ-UBND về việc quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú đối với T. Ngày 14/9/2024 T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý Ngày 15/9/2024 Công an phường T.L đã phối hợp cùng Trạm y tế phường T.L kiểm tra chất ma tuý trong cơ thể của T, kết quả Dương tính với MOP.
Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 19/9/2024 của Cơ sở Cai nghiện Đa chức năng tỉnh TN xác định Nông Văn T có nghiện ma tuý loại Heroin.
Ngày 25/9/2024 Công an phường T.L, thành phố TN đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Nông Văn T, đồng thời lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Như vậy, đã đủ căn cứ để xác định Nông Văn T thuộc đối tượng “Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma tuý mà tái nghiện” theo khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nông Văn T là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước ta, nên cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với T thấy T là đối tượng có nhân thân xấu, nghiện ma tuý từ năm 2019, đã từng bị Toà án nhân dân huyện thành phố TN áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng sau khi trở về địa phương T không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma tuý. Trong quá trình lập hồ sơ T đã tự nguyện khai báo, nhận thức được hành vi vi phạm của mình là vi phạm pháp luật, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét thấy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T một thời gian nhất định để Tuyển được chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, lao động, học tập trở thành người có ích cho xã hội. Đề nghị của phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố TN và Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020);
- Khoản 1 Điều 3, các Điều 23, 30, 31, 32 và Điều 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 quy định về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
- Khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;
- Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
- Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nông Văn T, sinh ngày 04 tháng 6 năm 1983, nơi cư trú tổ 5, phường T.L, thành phố TN, tỉnh TN.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày 15/9/2024.
Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TN. Địa chỉ tổ 5, phường Thịnh Đán, thành phố TN, tỉnh TN.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 33 của pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố TN phối hợp với Công an thành phố TN đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TN tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Phòng LĐTB&XH TP. TN; - VKSND TP. TN; - Công an TP. TN; - UBND phường T.L; - Người bị áp dụng; - Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TN; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thu Huệ |