vanban.org

Quyết định 184/2020/QĐ-TA

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 12/11/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng kể từ ngày Nguyễn Văn H bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ: Xã Tân T, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk). N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "xử lý vi phạm hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 184/2020/QĐ-TABuôn Ma Thuột, ngày 12 tháng 11 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Đình Thanh

2. Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Bích Dịu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 12 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 192/QĐ-MPH ngày 06 tháng 11 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1993; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: 15 Đinh Công T, phường Tân T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Con ông Nguyễn Thái H và bà Trịnh Thị Hải Y.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Vũ Thị N – Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 10/01/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Tân T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định số 19/QĐ- UBND V/v Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Văn H, thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 10/01/2020. Đến ngày 15/10/2020, H vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an phường Tân T phát hiện, đưa về làm việc. Quá trình làm việc, Nguyễn Văn H khai nhận đã sử dụng ma túy từ năm 2014 và nghiện cho đến nay, do đó Công an phường Tân T đã kết hợp với Bệnh viện đa khoa thành phố B xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Văn H. Kết quả xét nghiệm xác định Nguyễn Văn H dương tính với Marijuana. Công an phường Tân T, thành phố B đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H.

Tại phiên họp đại diện phòng lao động thương binh xã hội thành phố B trình bày: Căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H do Công an phường Tân T, thành phố B lập đã thể hiện: Nguyễn Văn H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2014 đến nay, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không tự cai nghiện được và lần sử dụng gần đây nhất là ngày 15/10/2020. Do vậy đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H với thời gian 14 tháng đến 16 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột: Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H, thời gian 14 tháng đến 16 tháng.

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên họp người bị đề nghị Nguyễn Văn H trình bày: Nguyễn Văn H là người nghiện ma túy từ năm 2010 và nghiện cho đến nay. Ngày 31/8/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Tân T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định số 120/QĐ- UBND V/v Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Văn H, thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 31/8/2020. Sau khi đã chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường nhưng H vẫn lén lút sử dụng trái phép chất ma túy và vào ngày 15/10/2020, H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị Công an phường Tân T phát hiện, đưa về làm việc.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng lao động, thương binh xã hội thành phố B tại phiên họp và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, đã có đủ căn cứ để xác định:

Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

Bản thân Nguyễn Văn H là người có khả năng nhận thức rõ chất ma túy là chất gây nghiện và nếu đưa vào cơ thể sẽ làm nguy hại cho sức khỏe con người và làm phát sinh một số tội phạm khác. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn H vẫn cố ý sử dụng. Do vậy, để tạo điều kiện cho anh Nguyễn Văn H chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề nên cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Văn H.

Căn cứ vào các Điều 6, Khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ; Điều 19, Điều 20 và Điều 22 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng kể từ ngày Nguyễn Văn H bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ: Xã Tân T, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk).

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động, thương binh và xã hội thành phố B.

Cỡ chữ