vanban.org

Quyết định 184/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn M. Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2014, quyển số 01/2014, cấp ngày 05/3/2014 do Ủy ban nhân dân xã D, huyện M, Thành phố Hà Nội cấp cho chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn M không còn giá trị pháp lý.

VKSND huyện M; UBND xã D; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn M. Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2014, quyển số 01/2014, cấp ngày 05/3/2014 do Ủy ban nhân dân xã D, huyện M, Thành phố Hà Nội cấp cho chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn M không còn giá trị pháp lý.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ ĐỨC TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 184/2019/QĐST-HNGĐM, ngày 31 tháng 10 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 295/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2019, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1994. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 01A, thôn H, xã D, huyện M, Thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1990. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 01A, thôn H, xã D, huyện M, Thành phố Hà Nội. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 55, 56, 57, 81, 82, và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 23 tháng 10 năm 2019.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 23 tháng 10 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn M. Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2014, quyển số 01/2014, cấp ngày 05/3/2014 do Ủy ban nhân dân xã D, huyện M, Thành phố Hà Nội cấp cho chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn M không còn giá trị pháp lý. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 2.1. Về con chung: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn M đều xác nhận có 02 con chung. Giao cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 16/10/2014 cho anh Nguyễn Văn M; giao cháu Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 03/7/2017 cho chị Đinh Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc có thoả thuận khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho các bên đến khi có yêu cầu mới. Chị H và anh M đều có quyền đi lại thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. 2.2. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự đều xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2.3. Về án phí: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn M mỗi người phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H chịu cả phần án phí thay cho anh M nên chị H phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 2498 ngày 17/10/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M, Thành phố Hà Nội. Nay chị H được hoàn lại 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng chẵn). 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ