- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Lê Kim C- Đinh Tấn T"
- Tòa quyết gì? Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 420/2018/QĐST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 184/2019/QĐ-PT | Tp. Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 3 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đào Hồng Cảnh
Các Thẩm phán:
Ông Hoàng Hữu Thanh
Bà Phạm Thị Thu Hải
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 420/2018/QĐST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2018.
Toà án nhân dân huyện B đã căn cứ vào các Điều 217 và 218 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa:
Nguyên đơn: Ông Lê Kim C, sinh năm: 1953 (đã chết ngày 30/10/2015)
Địa chỉ: 7A184 ấp 7, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Kim C:
Bà Huỳnh Thị D, sinh năm: 1955
Bà Lê Thị Ngọc T, sinh năm: 1974
Ông Lê Kim C, sinh năm: 1986
Cùng địa chỉ: 7A184 ấp 7, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị D: Ông Đỗ Văn H, sinh năm: 1970 (Theo văn bản ủy quyền lập ngày 14/7/2017).
Địa chỉ: E6/33 khu phố 5, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Đinh Tấn T, sinh năm: 1965
Địa chỉ: 7A184/2 ấp 7, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Huỳnh Thị D, sinh năm: 1955
Địa chỉ: 7A184 ấp 7, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị D: Ông Đỗ Văn H, sinh năm: 1970 (Theo văn bản ủy quyền lập ngày 14/7/2017).
Bà Nguyễn Thị Ngọc D1, sinh năm: 1981
Địa chỉ: 7A184/2 ấp 7, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại đơn kháng cáo ngày 17 tháng 12 năm 2018 của bà Huỳnh Thị D là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là ông Lê Kim C và cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy quyết định đình chỉ số 420/2018/QĐST-DS ngày 10/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, với lý do Tòa án nhân dân huyện B căn cứ điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện là không đúng quy định pháp luật.
XÉT THẤY:
. Về thời hạn kháng cáo: Ngày 10/12/2018, Tòa án nhân dân huyện B ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 420/2018/QĐST-DS. Ngày 14/12/2018, Tòa án nhân dân huyện B tống đạt quyết định trên cho bà Huỳnh Thị D. Ngày 17/12/2018, bà D có đơn kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 420/2018/QĐST-DS. Ngày 21/12/2018, bà D đóng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm (theo biên lai thu số AA/2018/0006572 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện B). Do đó, đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị D là trong hạn luật định. [2]. Về nội dung kháng cáo: bà Huỳnh Thị D yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 420/2018/QĐST-DS ngày 10/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện B vì bà cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định việc không cung cấp được giấy chứng tử của ông Lê Kim L và bà Nguyễn Thị T (là cha mẹ của nguyên đơn là ông Lê Kim C đã chết ngày 30/10/2015) là thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện, trong khi đó tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án từ năm 2004. [3]. Nhận định của Hội đồng phúc thẩm như sau: Theo đơn khởi kiện ngày 05/8/2004 của ông Lê Kim C (bút lục số 32) về việc “xin hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với ông Đinh Tấn T. Tòa án nhân dân huyện B đã tiến hành thụ lý giải quyết vụ án số 402/2004/TLST-DS ngày 28/12/2004. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 30/10/2015, ông Lê Kim C chết (theo giấy chứng tử ngày 04/11/2015 của Ủy ban nhân dân xã P cấp). Đến ngày 05/02/2017, bà Huỳnh Thị D (là vợ của ông Lê Kim C) có Tờ tường trình về quan hệ nhân thân (bút lục số 169) để xác định những người kế thừa tố tụng của ông C bao gồm: Bà Huỳnh Thị D (vợ), ông Lê Kim L (cha của ông C), bà Nguyễn Thị T (mẹ của ông C) và các con của ông C là Lê Thị Ngọc T và Lê Kim C. Ngày 12/6/2018, Tòa án nhân dân huyện B ban hành Thông báo yêu cầu bà D cung cấp bản sao giấy chứng tử của ông Lê Kim Lầu và bà Nguyễn Thị Trung (bút lục số 170). Ngày 19/6/2018, bà D có Giấy cam kết (bút lục số 172) để xác định ông Lê Kim L và bà Nguyễn Thị T đã sinh sống tại nước ngoài (tại Canada) và đã chết, không biết được cụ thể nơi ông L bà T đã từng sinh sống và cũng không có người thân cùng sinh sống nên không thể cung cấp giấy chứng tử theo như yêu cầu của Tòa án. Tòa án nhân dân huyện B đã nhận định “theo giấy chứng tử ngày 04/11/2015 thì nguyên đơn ông Lê Kim C đã chết ngày 30/10/2015. Tại tờ tường trình về quan hệ nhân thân ngày 05/12/2017, vợ của ông C là bà Huỳnh Thị D đã xác nhận những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C ngoài vợ và con của ông C còn có cha mẹ của ông C là ông Lê Kim L và bà Nguyễn Thị T, ông L và bà T đã chết trước ông C. Tòa án nhân dân huyện B đã yêu cầu bà D cung cấp bản sao giấy chứng tử của ông Lê Kim L và bà Nguyễn Thị T, nhưng bà D không cung cấp được. Do đó, Tòa án nhân dân huyện B cho rằng vụ việc bà Huỳnh Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 để ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không phù hợp quy định pháp luật. Bởi lẽ, bà Huỳnh Thị D chỉ là một trong những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Lê Kim C, yêu cầu khởi kiện là của ông Lê Kim C và điều kiện khởi kiện chỉ áp dụng đối với người khởi kiện. Trường hợp, ông C chết mà không có người thừa kế quyền, nghĩa vụ thì Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy Quyết định đình chỉ số 420/2018/QĐST-DS ngày 10/12/2018 của bà Huỳnh Thị D là có cơ sở.
Mặt khác, khi ông Lê Kim C còn sống, Tòa án nhân dân huyện B đã đưa vụ án ra xét xử (theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2015/QĐST-DS ngày 08/4/2015) và quyết định hoãn phiên tòa số 83/2015/QĐST-DS ngày 05/5/2015 với lý do “Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Kim C yêu cầu Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để tiến hành định giá lại giá trị đất và giá trị xây dựng”. Ngày 28/7/2015, Tòa án nhân dân huyện B đã ban hành quyết định định giá tài sản số 74/2015/QĐ-ĐGTS và đến ngày 13/8/2015 thì tiến hành định giá giá trị đất và tài sản trên đất (theo biên bản định giá ngày 13/8/2015), nhưng Tòa án nhân dân huyện B không tiếp tục xét xử vụ án.
Ngoài ra, trong hồ sơ không có Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo hòa giải, biên bản tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo hòa giải cho các đương sự.
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 420/2018/QĐST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết vụ án.
2. Về án phí phúc thẩm: Bà Huỳnh Thị D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho bà Huỳnh Thị D là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0006572 ngày 21/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TANDTC; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - TAND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đào Hồng Cảnh |