- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông N.M.Đ.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:183/2024/QĐST-DS | G, ngày 06 tháng 5 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà L.T.T.T
Thư ký phiên họp: Ông T.T.T - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G tham gia phiên họp:
Bà L.D.B.C - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 736/2023/TLST - DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số: 28/2024/QĐP-MPH ngày 19 tháng 4 năm 2024.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ông N.M.Đ; địa chỉ: Số 14, tổ 1, ấp 5C, xã L.T, huyện L.N, tỉnh B.P (có đơn yêu cầu xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Vũ Thị Hồng Phượng và ông N.M.T; cùng địa chỉ: Số 14 tổ 1, ấp 5C, xã L.T, huyện L.N, tỉnh B.P; ông N.M.Đ là người đại diện theo uỷ quyền.
(Các đương sự có đơn yêu cầu vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu và biên bản ghi lời khai của ông N.M.Đ trình bày:
Ông Đ và vợ là bà V.T.H.P có hai người con là N.M.T; sinh năm 1990 và N.M.T; sinh năm 1994, cùng cư trú tại địa chỉ số 27/70/12 đường số S, Phường M.S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để đi học và đi làm. Ngày 29/3/2017, ông N.M.T bỏ đi khỏi nơi cư trú, gia đình tìm kiếm, liên lạc nhiều năm nhưng không có tin tức gì đến năm 2020 gia đình làm đơn yêu cầu Toà án tuyên bố mất tích đối với ông T.
Nay ông N.M.Đ yêu cầu Tòa án giải quyết về việc “Tuyên bố ông N.M.T; sinh ngày 20/11/1990 là đã chết”.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm: Bà V.T.H.P; ông N.M.T có biên bản trình bày:
Lời trình bày về huyết thống, quan hệ gia đình của ông N.M.Đ là đúng. Bà P và ông T thống nhất yêu cầu tuyên bố ông N.M.T; sinh ngày 20/11/1990 là đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận G nhận định:
Thẩm quyền giải quyết: Xét thấy ông N.M.Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố ông N.M.T; sinh năm 1990; nơi cư trú cuối cùng tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận G theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
Ông N.M.Đ, bà V.T.H.P và ông N.M.T có đơn xin vắng mặt tại phiên họp, đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự theo qui định pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận G tiến hành mở phiên họp theo theo quy định pháp luật.
Xét yêu cầu của các đương sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông N.M.T; sinh năm 1990 có cư trú, sinh sống tại địa chỉ số 27/70/12 đường số 6, Phường 16, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2016 đến ngày 29/3/2017 ông T đi khỏi nơi cư trú. Ngày 6/11/2020, Toà án nhân dân quận G tuyên bố ông N.M.T; sinh ngày 20/11/1990 có cư trú cuối cùng tại số 27/70/12 đường số S, Phường M.S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là mất tích theo Quyết định số 378/2020/QĐST-DS.
Xét thấy ông N.M.T bỏ đi khỏi nơi cư trú từ năm 2017 đến nay không có tin tức, thông tin gì đối với ông T. Căn cứ Điều 71 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người biệt tích năm năm liền trở lên mà không có tin tức gì, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng mà vẫn không có tin tức gì xác thực là người đó còn sống, thì theo yêu cầu người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu người đó là đã chết”. Vì vậy ông N.M.Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố ông N.M.T, sinh ngày 20/11/1990 nơi cư trú cuối cùng tại số 27/70/12 đường số S, Phường M.S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết, là có cơ sở chấp nhận. Ngày chết của ông N.M.T được xác định là ngày kế tiếp của năm năm, kể từ ngày biết tin tức cuối cùng của ông T, nên thời hạn tính từ ngày, tháng, năm của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng được xác định là ngày 29/03/2022.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông N.M.Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu miễn giảm, thu, nộp án phí và lệ phí Tòa án. Do đó ông N.M.Đ phải nộp Lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 371, Điều 372, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông N.M.Đ.
Tuyên bố ông N.M.T; sinh ngày 20/11/1990 cư trú tại số 27/70/12 đường số S, Phường M.S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết, kể từ ngày 29 tháng 3 năm 2022.
2. Về Lệ phí giải quyết việc dân sự: Là 300.000 đồng ông N.M.Đ phải nộp nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012983 ngày 28/11/2023, tại Chi cục thi hành án dân sự G, ông N.M.Đ đã nộp đủ lệ phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND.TPHCM; - VKSND QG; - Chi cục THADS QG; - Các đương sự; - Lưu Vp, | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP |