vanban.org

Quyết định 183/2024/QĐ-TA

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 17/10/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020);

Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020);
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 183/2024/QĐ-TATP. TN, ngày 17 tháng 10 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thu Huệ

- Thư ký phiên họp: Bà Vi Phương Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN.

Ngày 17 tháng 10 năm 2024, tại Cơ sở Cai nghiện đa chức năng tỉnh TN tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 171/2024/QĐ-TA ngày 09 tháng 10 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Phạm Quang T, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1982

Nơi cư trú: Tổ dân phố Tân Thành 1, phường Đ, thành phố TN, tỉnh TN. Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Phạm Quang T (đã chết), con bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1947. Tiền án, tiền sự: Không.

(Anh T có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Ngọc Tân, Chức vụ: Phó trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố TN, tỉnh TN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo tài liệu có trong hồ sơ đề nghị, tại bản tường trình, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp, Phạm Quang T xác định: Bản thân T là người nghiện ma túy, phải lệ thuộc vào chất ma túy từ năm 2001, loại ma túy sử dụng là Heroin, hình thức sử dụng là chích. T đã từng đi cai nghiện bắt buộc 02 lần (năm 2011 và năm 2013). Ngày 18/5/2022 T đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Cơ sở Methadone số 2 Quan Triều – Trung tâm Y tế thành phố TN. Ngày 23/9/2024 T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và bị Công an phường Đ phát hiện. Công an phường Đ đã phối hợp cùng Trạm y tế phường Đ kiểm tra chất ma tuý trong cơ thể của T, kết quả Dương tính với MOP.

Ngày 30/9/2024 Trung tâm Y tế thành phố TN có thông báo số 1564/TB-TTYT về việc dừng điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiên bằng thuốc Methadone đối với Phạm Quang T.

Ngày 01/10/2024 Công an phường Đ, thành phố TN đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Phạm Quang T, đồng thời lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T, giao T cho Cơ sở Cai nghiện Đa chức năng tỉnh TN quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do gia đình T từ chối quản lý.

Công văn số: 560/ĐN - CNBB, ngày 04/10/2024 của Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố TN, tỉnh TN đề nghị Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang T tại Cơ sở Cai nghiện Đa chức năng tỉnh TN.

Tại phiên họp:

- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố TN, tỉnh TN vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án nhân dân thành phố TN xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TN đối với Phạm Quang T với thời gian từ 12 đến 15 tháng.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN:

Việc lập hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố TN về việc đưa Phạm Quang T vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TN là đúng quy định của pháp luật và phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, thành phần hồ sơ đã đầy đủ các tài liệu quy định tại Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: kể từ khi thụ lý hồ sơ đến khi mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, Toà án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục và thời hạn quy định tại Điều 105, Điều 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thưởng vụ Quốc hội, quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang T, nhất trí quan điểm của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố TN, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố TN áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang T với thời gian từ 18 đến 21 tháng.

- Ý kiến của người bị đề nghị Phạm Quang T: Việc cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hoàn toàn đúng. Bản thân T là người nghiện ma túy từ năm 2001 đến nay không từ bỏ được. Trong thời gian T điều trị nghiện bằng thuốc Methadone, T vẫn tiếp tục sử dụng ma tuý và bị Trung tâm Y tế thành phố TN từ chối điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone. Quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, T đã được thông báo về việc lập hồ sơ và đọc hồ sơ. T nhất trí và xin Tòa án xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc với thời hạn ngắn nhất.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có tại hồ sơ đề nghị và ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, cơ quan lập hồ sơ và Kiểm sát viên tham gia phiên họp thấy rằng:

Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trinh tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc để nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN.

Về thời hiệu: Ngày 23/9/2024 do Phạm Quang T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý trong thời gian điều trị nghiện bằng thuốc Methadone nên Công an phường Đ, thành phố TN phối hợp với Trạm y tế phường Đ, thành phố TN thực hiện kiểm tra chất ma túy đối với Phạm Quang T, kết quả kiểm tra dương tính đối với chất ma túy. T xác định lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 23/9/2024. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố TN đối với Phạm Quang T vẫn trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang T đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 96, Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhận thấy:

Phạm Quang T là người nghiện ma túy, phải lệ thuộc vào chất ma túy từ năm 2001, loại ma túy sử dụng là Heroin, hình thức sử dụng là chích. Ngày 18/5/2022 T đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Cơ sở Methadone số 2 Quan Triều – Trung tâm Y tế thành phố TN. Ngày 23/9/2024 T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và bị Công an phường Đ phát hiện. Công an phường Đ đã phối hợp cùng Trạm y tế phường Đ kiểm tra chất ma tuý trong cơ thể của T, kết quả Dương tính với MOP. Ngày 30/9/2024 Trung tâm Y tế thành phố TN có thông báo số 1564/TB-TTYT về việc dừng điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiên bằng thuốc Methadone đối với Phạm Quang T. Ngày 01/10/2024, Công an phường Đ, thành phố TN đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc ma túy và điều trị nghiện các thay thế đối với Phạm Quang T.

Như vậy, đã đủ căn cứ để xác định Phạm Quang T thuộc đối tượng “Người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vì phạm quy định về điều trị nghiện” theo khoản 3 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Quang T là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước ta, nên cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với T thấy T là đối tượng có nhân thân xấu, nghiện ma tuý từ năm 2001 đến nay, đã 02 lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng T không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý trong thời gian điều trị nghiện bằng thuốc Methadone. Trong quá trình lập hồ sơ T đã tự nguyện khai báo, nhận thức được hành vi vi phạm của mình là vi phạm pháp luật, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét thấy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang T một thời gian nhất định để T được chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, lao động, học tập trở thành người có ích cho xã hội. Đề nghị của phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố TN đề nghị buộc T phải cai nghiện bắt buộc với mức từ 12 đến 15 tháng là có phần thấp; Đối với ý kiên đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020);

- Khoản 1 Điều 3, các Điều 23, 30, 31, 32 và Điều 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 quy định về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Khoản 3 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;

- Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

- Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang T, sinh ngày 10/10/1982, nơi cư trú tổ dân phố Tân Thành 1, phường Đ, thành phố TN, tỉnh TN.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày 23/9/2024.

Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TN. Địa chỉ tổ 5, phường Thịnh Đán, thành phố TN, tỉnh TN.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.

Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 33 của pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố TN phối hợp với Công an thành phố TN đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TN tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ