vanban.org

Quyết định 181/2019/QĐST-DS — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 20/06/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 247/2019/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2019, về việc: “Tranh chấp tiền lãi trong hợp đồng vay tài sản”, giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959; Địa chỉ: Xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dân sự;"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 247/2019/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2019, về việc: “Tranh chấp tiền lãi trong hợp đồng vay tài sản”, giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 181/2019/QĐST-DSBiên Hòa, ngày 20 tháng 6 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các Điều 48, điểm c khoản 1, 3 Điều 192, Điều 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm;

Xét thấy: Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định tại điểm c khoản 1, 3 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Bởi lẽ, tại bản án số: 71/2017/KDTM-ST ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Án đã có hiệu lực pháp luật) đã giải quyết hủy hợp đồng mua bán xưởng giấy do ông Nguyễn Văn Đ - Chủ doanh nghiệp tư nhân Tư Đ ký với ông Trần Thế H ngày 15/4/2010. Buộc ông H phải trả lại cho ông Đ số tiền nợ 906.266.652 đồng.

Bản án đã giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu theo “nguyên tắc của ai trả lại cho người đó, phần thiệt hại của ai người đó chịu”…“nhà xưởng hiện nay ông H đang quản lý cho thuê, nên không phải buộc ông Đ giao lại”.

Về số tiền 906.266.652 đồng mà ông H phải trả lại cho ông Đ, đây là số tiền nợ gốc và lãi căn cứ theo bản quyết toán ngày 06/4/2010. Tại phiên tòa ngày 27/11/2017, ông Đ không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét; việc rút yêu cầu tính lãi suất là quyền quyết định và tự định đoạt của ông Đ.

Ngày 19/02/2019, ông Đ khởi kiện lại yêu cầu Tòa án giải quyết tiền lãi trên nợ gốc và tiền lãi nợ quá hạn theo Ngân hàng tính từ ngày 15/4/2010 và tạm tính đến ngày 15/02/2019 của số tiền 906.266.652đ, cụ thể: 906.266.652đ x 0,75% x 150% x 106 tháng = 1.080.722.983 đồng.

Ông Đ cũng xác định đã làm đơn yêu cầu thi hành án bản án nêu trên; trường hợp nếu ông H không thanh toán số tiền 906.266.652 đồng, thì hàng tháng ông H còn phải chịu lãi suất theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả là đảm bảo quyền lợi của ông Đ.

Như vậy, việc rút yêu cầu tính lãi suất là quyền quyết định và tự định đoạt của ông Đ phù hợp với quy định của pháp luật, Tòa án đã giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nên nay ông Đ khởi kiện để yêu cầu tính lại tiền lãi của số tiền 906.266.652đ thì theo quy định của pháp luật ông Đ không được quyền khởi kiện lại.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 247/2019/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2019, về việc: “Tranh chấp tiền lãi trong hợp đồng vay tài sản”, giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959;

Địa chỉ: Xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn: Ông Trần Thế H, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Xã P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp. Trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 22.211.000đ (Hai mươi hai triệu hai trăm mười một ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004394 ngày 20/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ