vanban.org

Quyết định 18/QĐ-TA

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 07/08/2017 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Nha T.

Nơi tiếp nhận đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Trung tâm điều trị nghiện ma túy và PHCN tâm thần tỉnh Hà Nam (Địa chỉ: Thị trấn Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam). Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc."
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Nha T.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 81/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và…; Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18/QĐ - TA.Phủ Lý, ngày 07 tháng 8 năm 2017.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Đinh Văn An.

2. Thư ký phiên họp: Ông Đỗ Xuân Lập.

Ngày 07 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố (TP) Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 18/QĐ - TA ngày 31 tháng 7 năm 2017, đối với:

Họ và tên: Trịnh Nha T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/12/1976; Số CMND 168406498, ngày cấp 17/7/2009, nơi cấp: Công an tỉnh Hà Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa 6/12; Nguyên quán: Phủ Lý - Hà Nam; Hộ khẩu thường trú: tổ dân phố H, phường T, TP P, tỉnh Hà Nam (đã cắt khẩu đi ngày 28/6/2017); Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án: Ngày 09/10/1996 Tòa án Thị xã Hà Nam (nay là TP Phủ Lý), tỉnh Hà Nam xử phạt 03 tháng 03 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 11/3/1998 Tòa án ND tỉnh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm căp tài sản; Ngày 06/10/2000 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép ma túy; Ngày 20/11/2001 Tòa án ND huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; Ngày 10/6/2010 Tòa án ND TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 07 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.

Tiền sự: Ngày 13/02/2017 Chủ tịch UBND phường Thanh Châu, TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, thời hạn 03 tháng (đã chấp hành xong). Ngày 21/6/2017 kết quả xét nghiệm nước tiểu: Dương tính với Methamphetamine.

Con ông: Trịnh Xuân B và bà Nguyễn Thị Kim T.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết; Chức vụ: Phó phòng Lao động - thương binh và xã hội TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; Có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam: Bà Nguyễn Thị Thúy Tình; Chức vụ: Kiểm sát viên; Có mặt.

3. Những người khác:

Đại diện Ủy ban nhân dân (UBND) phường Thanh Châu, TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam: Ông Hồ Ngọc Tuyên; Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND phường; Có mặt.

NHẬN THẤY:

Trịnh Nha T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2000. Ngày 06/02/2017 Công an phường T,TP P, tỉnh Hà Nam đã đưa T đi xét nghiệm tại Trạm y tế phường, kết quả: Dương tính với Heroin. Ngày 13/02/2017 Chủ tịch UBND phường T, TP P, tỉnh Hà Nam ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với T, thời hạn 03 tháng. Sau khi chấp hành xong, vẫn tiếp tục lén lút sử dụng ma túy nên ngày 21/6/2017, Công an phường Thanh Châu, TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tiếp tục đưa T đi xét nghiệm nước tiểu tại Trạm y tế phường T, TP P, tỉnh Hà Nam, kết quả xét nghiệm: Dương tính với Methamphetamine.

- Ý kiến của đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội TP Phủ Lý: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Trịnh Nha T đảm bảo các căn cứ pháp luật. Việc đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng là cần thiết cho gia đình và xã hội. Do đó, giữ nguyên quan điểm như đề nghị tại Công văn số 61/LĐTBXH ngày 25/7/2017.

- Ý kiến của đại diện UBND phường Thanh Châu: Trịnh Nha T là đối tượng hình sự có nhân thân rất xấu (Từ năm năm 1996 đến năm 2010 có đến 05 tiền án về nhiều tội danh khác nhau, trong đó có tội về ma túy) bản thân sa vào nghiện ngập ma tuý đã lâu, đã được pháp luật xử lý nghiêm minh và cảm hóa, giáo dục nhiều lần nhưng vẫn tái nghiện. Do đó, việc đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là rất cần thiết. Đề nghị Toà án nhân dân TP Phủ Lý xem xét quyết định đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của đại diện VKSND TP Phủ Lý: Hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc lập hồ sơ đưa công dân Trịnh Nha T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo chặt chẽ, đúng trình tự, thời gian và tính pháp lý theo quy định của pháp luật. Đề nghị của Phòng lao động - thương binh và xã hội TP Phủ Lý là đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi vi phạm của T. Đề nghị Tòa án nhân dân TP Phủ Lý áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Nha T thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Trịnh Nha T đảm bảo đúng quy định của: Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13; Pháp lệnh trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013, Nghị định số 221/2013/NĐ- CP ngày 30/12/2013 và Nghị định số 136/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ.

Hành vi vi phạm của Trịnh Nha T đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn TP P. Hành vi này còn làm giảm sút đến chính sức khoẻ của bản thân và tạo cơ hội cho các phần tử xấu lợi dụng để buôn bán ma tuý, làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm. Là người đã bị xử lý hình sự nhiều lần (trong đó có tội phạm về ma túy), đặc biệt đã bị chính quyền địa phương nơi cư trú áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, nhưng vẫn không chịu sửa chữa, tiếp tục sa vào con đường nghiện ngập ma tuý. Xét thấy, cần thiết phải đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời hạn nhất định như đề nghị của Phòng lao động - thương binh và xã hội TP P là phù hợp, cần chấp nhận nhằm tạo điều kiện cho T được chữa bệnh, điều trị phục hồi sức khoẻ không tái nghiện và lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, giúp T có điều kiện tái hoà nhập cộng đồng, xây dựng cuộc sống lành mạnh.

Trịnh Nha T phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm và được hưởng tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện khai báo thành khẩn, phần nào thể hiện sự thành thật hối lỗi đối với hành vi vi phạm pháp luật của bản thân.

Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, chính quyền địa phương và Viện kiểm sát cùng cấp tại phiên họp là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật và cần thiết trong việc giáo dục, cảm hoá Trịnh Nha T trở thành công dân tốt, đảm bảo sức khoẻ cộng đồng và giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn.

Căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Trịnh Nha T: Điều 95, 96, 103, 104, Khoản 2- điều 6, Khoản 2 - điều 9, Điểm b- khoản 1- điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3, 19, 20, 22, 23, 24, 30, 31, 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; Nghị định số 221/2013/NĐ- CP ngày 30/12/2013 và Nghị định số 136/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Nha T.

Nơi tiếp nhận đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Trung tâm điều trị nghiện ma túy và PHCN tâm thần tỉnh Hà Nam (Địa chỉ: Thị trấn Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định (khiếu nại phải gửi đơn đến Toà án đã xem xét nêu rõ lý do và căn cứ khiếu nại).

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (kiến nghị, kháng nghị bằng văn bản, nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Toà án đã xem xét).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan Công an TP P, tỉnh Hà Nam chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động- thương binh và xã hội TP P, tỉnh Hà Nam đưa Trịnh Nha T đi thi hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ