vanban.org

Quyết định 18/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T là Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Ấp G, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "quyết định áp dụng xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 18
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18/QĐ-TAHồ Chí Minh, ngày 22 tháng 10 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18-THÀNH PHỐ HÒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn N.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Thanh Toàn.

Ngày 22 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Cơ sở cai nghiện ma túy số 04, Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 13/QĐ - TA ngày 17 tháng 10 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 1989; giới tính: Nam; số căn cước công dân 089089013728; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; trình độ học vấn: 00/12; Nơi ĐKHKTT: Ấp P, xã P, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; con ông Phạm Văn T1 và bà Đặng Thị L; năm 2019, bị TAND huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không; có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Hữu L1 - Trưởng công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L1 ủy quyền cho ông Võ Trọng N1 và ông Nguyễn Hoàng Đ – Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Phạm Văn T là người nghiện ma túy từ năm 2019. Ngày 09/10/2025, C phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đã lập Biên bản vi phạm về việc Phạm Văn T đã sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm cho thấy, anh T dương tính với chất ma túy đá-Methamphetamine.

Tại Bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Biên bản vi phạm và Biên bản ghi lời khai cùng ngày 09/10/2025, Phạm Văn T thừa nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2019 cho đến nay, lần gần nhất sử dụng trái phép chất ma túy là ngày 05/10/2025. Tại phiếu trả lời xác minh ngày 09/10/2025 của công an phường T và Công an xã P, tỉnh An Giang, đối tượng không có nơi cư trú ổn định. Ngày 09/10/2025, Phạm Văn T có đơn từ chối cai nghiện tự nguyện theo quy định, đồng thời có ý kiến sẽ chấp hành đúng các định của cở sở cai nghiện bắt buộc.

Cũng trong ngày 09/10/2025, Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 47/QĐ-CAP, theo đó đã giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 4-Thành phố Hồ Chí Minh quản lý Phạm Văn T trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Phạm Văn T là người nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là đá (Methamphetamine). T là người không có nơi cư trú ổn định, từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Căn c Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, đề nghị Tòa án ban hành quyết định đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để sau khi cai nghiện xong trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và góp phần đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương. Thời gian đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc là 16-18 tháng.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh: Trong quá trình thụ lý hồ sơ, chu n bị mở phiên họp và tại phiên họp Th m phán, Thư ký phiên họp, cơ quan đề nghị và những người tham gia phiên họp đã thực hiện theo đúng quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T đã đầy đủ; th m quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng theo quy định pháp luật; thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn T v n còn. Vì vậy, đề nghị Tòa án ban hành quyết định đưa Phạm Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định. Thời gian đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc là 16-18 tháng.

- Ý kiến của người bị đề nghị: Tại phiên họp, Phạm Văn T thừa nhận là người nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định, từ chối đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Đồng thời, đồng ý cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.

XÉT THẤY:

Về th m quyền xem xét, quyết định: Việc thụ lý và mở phiên họp theo đề nghị của Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị công an phường T lập Biên bản vi phạm ngày 09/10/2025 là thuộc th m quyền giải quyết của Tòa án khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, Điều 7 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC của Bộ C1 - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao.

Về thời hiệu áp dụng: Có căn c xác định được Phạm Văn T sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối cùng vào ngày 05/10/2025. Vì vậy, ngày 15/10/2025, Tòa án nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là v n còn thời hiệu theo quy định tại Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T có đầy đủ thủ tục theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, Điều 7 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC của Bộ C1 - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao.

Căn c vào Bản tường trình, Biên bản ghi lời khai, Biên bản vi phạm và lời trình bày của Phạm Văn T tại phiên họp là phù hợp với trả lời kết quả của Trạm y tế xác định T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 05/10/2025. Ngày 09/10/2025, Trạm y tế phường T thuộc Trung tâm Y tế Thành phố B xác định T nghiện ma túy đá (Methamphetamine). Đồng thời kết quả xác minh thể hiện T là đối tượng không có nơi cư trú ổn định và từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Như vậy, hành vi của Phạm Văn T đã vi phạm vào khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về nhận th c: Phạm Văn T biết rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng v n cố ý thực hiện.

Tại phiên họp, Phạm Văn T tỏ thái độ ăn năn về hành vi sai trái của mình và mong muốn sẽ cai nghiện tốt để về với gia đình.

Về tính chất, m c độ, hậu quả của hành vi: Phạm Văn T khai nhận bắt đầu sử dụng trái phép chất ma tuý từ năm 2019. Việc sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ gây hại cho s c khỏe bản thân mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi thực hiện hành vi. Ngoài ra, T còn có tiền án về tội lên quan đến ma túy. Do đó, việc đưa Phạm Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết.

Xét ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị là phù hợp nên chấp nhận; ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là có cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T là Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Ấp G, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định trong hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định trong hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Cơ sở cai nghiện ma túy số 4 - Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T./.

Cỡ chữ